January 30, 2010
Việt Nam: Trước một thời thách đố
HOÀNG NGỌC NGUYÊN-Việt Tribune
Trong vài ngày qua, người ta có dịp nhìn lại Viêt Nam trong công cuộc xây dựng kinh tế và một
đất nước dân chủ tiến bộ. Ở mỗi một người dân trong một nước, tùy theo hoàn cảnh sống, làm việc, những điều kiện văn hóa giáo dục của mình, mà nhận thức về nhu cầu tự do, dân chủ trong đời sống kinh tế, chính trị của xã hội, của bản thân có thể khác nhau, nhưng đối với những ngưòi lãnh đạo đất nước có trách nhiệm với sự phát triển, tiến bộ của đất nước, của dân tộc, người ta không thể thoái thác, quay lưng hay có một diễn dịch nào khác về nhu cầu đó của người dân, của đất nước. Tuy nhiên, theo những kết quả được công bố về tình hình tự do kinh tế của Việt Nam, chúng ta không tránh khỏi kết luận đã chẳng có sự quan tâm nào thực sự đến việc “mở trói” cho đất nước, cho dù từ năm 1986, khi bắt đầu công cuộc đổi mới kinh tế theo hướng thị trường, người ta đã dùng đến từ rất dễ hình dung này.

Các chung cư cao ốc mọc lên ngày càng nhiều bên bờ sông Sàigòn, ngày 26 tháng 1, 2010. Aude GENET/AFP/Getty Images
Từ hơn thập niên qua, nhật báo Wall Street Journal và The Heritage Foundation, một trung tâm tư tưởng rất thời danh ở Washington, đã có dự án cùng theo dõi sự tiến bộ của tự do kinh tế trên khắp thế giới bằng Chỉ số Tự do Kinh tế (Index of Economic Freedom). Sự hình thành của chỉ số này xuất phát từ tư tưởng chủ đạo của nhà kinh tế cổ điển Adam Smith. Tác giả của tác phẩm kinh điển Wealth of Nations (1776) đã cổ vũ lý thuyết kinh tế tự do và chủ trương rằng “Khi những định chế bảo vệ tự do của cá nhân, kết quả sẽ là sự phồn vinh lớn hơn cho tất cả mọi người”. Dĩ nhiên ngưòi ta còn có thể tranh cãi nhiều về thực tế của quan điểm này, nhưng tự do và công bằng trong đời sống kinh tế của xã hội là những nguyên tắc, nhu cầu không thế chối cãi. Trong cuộc sống, chẳng có gì bất hạnh hơn là cảm nhận thiếu tự do, và cũng chẳng gì làm người ta có thể ưu phiền, căm phẫn hơn là cảm nhận mình là nạn nhân của một sự bất công.
Những người thành lập chỉ số này (IEF) đã nêu ra 10 tiêu chuẩn để đánh giá sự tiến bộ của các nước trong việc thực hiện tự do kinh tế, và cho điểm các nước theo những tiêu chuẩn này, rồi cộng gộp lại để có chỉ số cuối cùng. Mười tự do đó là kinh doanh, thương mãi, ngân sách, công chi, tiền tệ, đầu tư, tài chính, tư hữu, chính quyền không tham nhũng, và lao động. Ý nghĩa quan trọng của chỉ số này là chúng ta đang sống trong một thế giới toàn cầu hóa, có nghĩa là người ta đang đi tìm và tiến dần đến những mẫu mực chung được chấp nhận phổ quát ở khắp nơi trên thế giới. Điều tối thiểu ta có thể nói là những nước, những nơi có chỉ số cao, thứ hạng cao là những nước, những nơi mà người dân có thể thấy có tự do, có công bằng – nếu ta đồng ý đây là những giá trị đáng vươn tới.
Trong rất nhiều năm qua, chính quyền Mỹ cũng như nhiều định chế nghiên cứu và giới kinh doanh ở Mỹ nói chung có thái độ khá cởi mở và dễ dãi đối với những gì đang xảy ra ở Việt Nam. Người ta hoan nghênh những thay đổi, khuyến khích những thay đổi và cho thời gian để những thay đổi có thể xảy ra. Tổ chức Heritage Foundation đã đưa ra những con số khá khách quan về Việt Nam, với một dân số 86.2 triệu và một Tổng sản lượng Nội địa tính theo phương pháp PPP (Purchase Power Parity – so sánh mãi lực) là 240.1 tỉ, tức khoảng US$2.785 đầu người, hay $232/tháng. Nếu mỗi người dân có thể có $232 một tháng để sống, tức gần 4.2 triệu đồng, thì đó là điều quá lý tưởng. Nhưng trong phương pháp tính toán này, giá cả hàng hóa này lại là “giá quốc tế”, nghĩa là theo giá mua được hàng hóa ở Mỹ. Tính lợi tức trên đầu người của Việt Nam hiện nay bằng tiền Việt Nam, mỗi người dân được chỉ khoảng 13.2 triệu một năm, hay khoảng 1.1 triệu đồng một tháng. Những con số này chưa phản ảnh hai điều mà chúng ta đều biết: sự cách biệt to lớn và ngày càng khơi rộng giữa giàu và nghèo, và tình hình gạo châu củi quế hiện nay ở trong nước.
Trong bảng xếp hạng 183 nước trên thế giới về tự do kinh tế, Việt Nam đứng thứ 144, với điểm trung bình là 49.8, so với mức trung bình của cả thế giới là khoảng 60. Việt Nam cũng đứng thứ 33 trong số 41 nước trong vùng châu Á-Thái Bình Dương, điểm của nó thấp hơn điểm trung bình của trong vùng và cả thế giới. Đặc biệt trong năm qua, nó mất thêm 1.2 điểm, đến năm trong 10 lĩnh vực tự do bị thoái trào. Những nước châu Á và Thái Bình Dương đứng đầu trong danh sách này là Hong Kong (1-89.7), Singapore (2-86.1), Nhật Bản (19-72.9), Macau (20-72.5), Đài Loan (27-70.4), Nam Triều Tiên (31-69.6), Malaysia (59-64.8), Thái Lan (66-64.1)… Có thể ghi nhận thêm: Cambodia (107-56.6), Lào (138 -51.1), Trung Quốc (140-51.0), Ấn Độ (121-53.8), Indonesia (114-55.5), và Phi Luật Tân (109-56.3). Danh sách ghi nhận thêm này cho thấy có một tương quan giữa sự ổn định chính trị và xã hội, tiến bộ trong dân chủ hóa với những tiến bộ trong tự do kinh tế.
Ghi nhận những cải cách ở Việt Nam trong những lĩnh vực như “tư nhân hóa một phần kinh tế quốc doanh, phóng thể các chế độ thương mại, gia tăng sự nhìn nhận quyền tư hữu, cải cách thuế khóa làm giảm thuế suất cho cá nhân và doanh nghiệp,” bản báo cáo này có nhận xét “tư do kinh tế nói chung của Việt Nam bị giới hạn bởi nhiều yếu tố định chế chủ yếu. Môi trường điều hành, giám sát kinh tế không minh bạch và hiệu quả đúng mức. Đầu tư bị trở ngại bởi nạn quan liêu không trong sáng và một hệ thống pháp lý không tin được. Các xí nghiệp quốc doanh vẫn còn chiếm đến 40% Tổng sản lượng nội địa. Hệ thống tư pháp bị suy yếu, nạn tham nhũng lan tràn, khiến cho việc thực hiện những cam kết trong các hợp đồng trở nên tùy tiện”. Trong giới thiệu về đất nước Việt Nam, người ta cũng nói “Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam là một chế độ độc tài đảng trị đã đi theo con đường tự do hóa kinh tế chỉ mới gần đây, bắt đầu bằng những cải cách đổi mới vào năm 1986. Năm 2007, nước Việt Nam tham gia Tổ chức Thương mãi Thế giới (WTO). Việt Nam nay đang tự hào có một trong những nền kinh tế tăng trưởng nhanh nhất trong vùng, được thúc đẩy chủ yếu bởi du lịch và xuất cảng. Chính phủ đang chậm chạp tự do hóa những khu vực kinh tế chủ yếu, bao gồm những định chế tài chánh, nhưng đàn áp chính trị và sự thiếu tôn trọng những nhân quyền căn bản vẫn còn là những mối quan ngại nghiêm trọng”.
Chúng ta biết rằng từ năm 1986, Việt Nam đã đi theo đường lối đổi mới kinh tế, xây dựng một nền kinh tế thị trường “theo định hướng xã hội chủ nghĩa” – cho dù cái đoạn sau này về “định hướng…”, người ta gần đây ít nói vì nghe có vẻ kỳ quặc. Từ năm 1986 đến nay, 24 năm ròng rã, đủ để cho người ta xây dựng một nền kinh tế tiến bộ, đoạn tuyệt với những quan niệm cổ hũ thời ban đầu như “kinh tế nhiều thành phần với kinh tế quốc doanh là chủ đạo”. Kinh tế quốc doanh là yếu tố nguy hại nhất cho sự phát triển tự do kinh doanh, tự do kinh tế, vì nó tạo ra một “sân chơi” không công bằng, một sự bất công càng thêm nghiêm trọng bởi sự phát triển như một nạn dịch một bộ máy quản lý kinh tế của Nhà nước tham nhũng ở các cấp, được hỗ trợ bằng một hệ thống chính sách mơ hồ, luật pháp không minh bạch, và tòa án vô hiệu lực. Cho đến nay, dù cho kinh tế tư nhân đã phát triển, nhưng con ngưòi quốc doanh vẫn còn trà trộn khắp mọi nơi, kinh tế quốc doanh vẫn có tính “chủ đạo” dù được che đậy bằng tư doanh hóa nhưng cầm đầu bởi những con người quốc doanh tham lam và lạm quyền.
Người ta có thể chỉ ra những con số về tỷ lệ tăng trưởng kinh tế hàng năm Việt Nam đã đạt được để bác bỏ sự cần thiết của tự do kinh tế, hay lý luận rằng tự do đến mức Việt Nam đã có là thích hợp, là đã đủ, là an toàn, vì mỗi nước với nền văn hóa riêng có thể có những chuẩn mực riêng về tự do, về dân chủ của mình. Thực tế là nền kinh tế Việt Nam đang đứng trước hai mối đe dọa.
Mối de dọa thứ nhất, cuộc khủng hoảng kinh tế suy thoái toàn cầu hiện nay sẽ chẳng dễ gì qua đi, và hai “mặt mạnh” của kinh tế Việt Nam, du lịch và xuất cảng, đang bị thử thách quyết liệt. Du lịch quốc tế đang ở trong giai đoạn thoái trào toàn cầu, người ta chắc chắn sẽ ít đi lại hơn, ít chi tiêu hơn trước. Về xuất cảng, Việt Nam sẽ sớm nhận chân sự “phồn vinh giả tạo” trong mô hình phát triển hướng về xuất cảng hàng hóa của mình, vì sự canh tranh toàn cầu sẽ ngày càng quyết liệt, trong khi mức cầu từ những nước nhập cảng “truyền thống” đang yếu đi.
Mối đe dọa thứ hai, như tạp chí Foreign Policy gần đây đã vạch ra, cũng xuất phát từ thế giới toàn cầu hóa ngày nay. Nhận thức về tự do, dân chủ của người dân sẽ ngày càng cao, và lối biện hộ “người dân vẫn quen sống với chế độ độc đảng xưa nay” sẽ ngày càng trở nên lố bịch. Dần dần người ta sẽ thấy tự do ngôn luận, tự do tư tưởng, và tự do tham gia chính trị là những thành phần không thể thiếu được của một xã hội đáng sống. Một mặt khác, một chế độ độc tài đảng trị bất lực hay vô tâm trong việc duy trì một đất nước lành mạnh trên mọi mặt văn hóa, xã hội, giáo dục… và chỉ biết chạy theo quyền lực và quyền lợi vật chất tạm thời, một chế độ như thế đã phủ nhận nguyện vọng của đất nước, của dân tộc. Đó chính là ý nghĩa của cuộc tranh đấu hiện nay của những người “bất đồng chính kiến” trong nước. Tạp chí Foreign Policy cho rằng cuộc tranh đấu này, được đáp lại bằng sự đối đầu thay vì đối thoại, sẽ làm cho những tiến bộ kinh tế đã có trở thành tai họa xã hội. Hiện nay, bên ngoài đã thấy chế độ Hà Nội đàn áp hơn trước, khắc nghiệt hơn trước, và phủ nhận hoàn toàn quyền chính trị của con người. Tuy nhiên, sự đối kháng hiện nay cũng đã rõ nét hơn và đã có khí thế hơn.
Những chuyển biến chính trị này chính là những điều chúng ta đang trông chừng trong năm mới này ở đất nước. [HNN]










