Những giấc mơ Mỹ
Chuyện ông Phạm Đình Nguyên tuần qua từ Sài Gòn bay sang Hoa Kỳ mua thị trấn Buford ở bang Wyoming, một vùng đất có dân số ít nhất nước Mỹ, chỉ một người, với giá 900 nghìn đôla đã được truyền thông và giới buôn bán nhà đất chú ý.
Vụ mua bán này thu hút nhiều khách, không chỉ cư dân Mỹ mà cả người từ 46 quốc gia trên thế giới. Chủ nhân thị trấn là ông Don Sammons đã chấp bút giá mua một cách chóng vánh trong cuộc đấu giá diễn ra chỉ 11 phút, từ 100 nghìn ấn định ở mức đầu tiên lên đến 900 nghìn đôla.
Với giá đó, không biết ông Phạm Đình Nguyên, Tổng Giám đốc Công ti Dịch vụ Phân phối Quốc tế (International Distribution Services), có trả quá cao không cho một cửa hàng bách hoá với trạm xăng, một căn nhà 3 phòng ngủ, lô đất rộng hơn 10 mẫu và một nhà kho, nhà đậu xe. Báo chí trong nước đưa tin ông muốn phát triển cơ sở tại đây thành một nơi trưng bày và phân phối các mặt hàng Việt trên nước Mỹ.
Tìm hiểu giá nhà qua Zillow.com và thấy trong thị trấn Buford không chỉ có căn nhà duy nhất của ông Don Sammons được bán mà còn ít nhất hai nhà khác đang rao bán.
Một căn trên đường Von Lunen đã bị ngân hàng tịch thu và được rao bán từ hơn ba tháng qua. Nhà hai tầng, 3920 sq. ft (khoảng 435 mét vuông) có 5 phòng ngủ, 3 phòng tắm; xây năm 2006 trên một lô đất rộng 5.13 mẫu tây. Lúc đầu ra giá 414 nghìn đôla, nay xuống còn 345 nghìn.
Căn thứ hai trên đường Lone Tree, mới đề bán cách đây vài ngày, gồm 3 phòng ngủ, một phòng tắm, rộng 310 mét vuông; xây năm 1992 trên một khu đất 35 mẫu tây, giá 160 nghìn đôla. Căn này có lẽ được chủ nhân cho lên danh sách sau khi thấy ông Sammons bán được nhà quá nhanh.
Hai căn nhà ghi trên chắc đã không có người ở từ trước năm 2011 để chỉ còn mình ông Sammons ở lại Buford và biến nơi đây trở thành thị trấn có số cư dân ít nhất tại Hoa Kỳ.
Việc người nước ngoài vào Mỹ mua nhà không phải là chuyện lạ vì luật ở đây cho phép dễ dàng. Sự việc bán một thị trấn nhỏ trong lúc khủng hoảng nhà đất ở Mỹ còn kéo dài và được một doanh nhân từ Việt Nam mua với giá cao là điều ngạc nhiên cho nhiều người.
Trong thập niên trước, nhiều người nước ngoài đã mua nhà tại những khu mới xây cất ở ngoại ô Sacramento, thủ phủ bang California để đầu tư. Họ mua rồi cho thuê, khi giá nhà lên cao họ bán đi kiếm lời. Chuyện này cũng đã tạo chú ý vì bất thình lình nhiều người thuê nhận được giấy của chủ nhà yêu cầu rời đi. Giới truyền thông truy tìm nguyên do và biết nhiều căn có chủ nhân là người Nhật. Nhưng luật là luật, chủ muốn lấy lại nhà chỉ cần thông báo bằng văn bản cho người thuê trong vòng 30 ngày để họ dọn đi.
Ngoài người Nhật, nhiều người châu Á khác cũng qua Hoa Kỳ mua nhà, trong đó có người Việt.
Mới đây nhân vụ bà Phạm Thị Diệu Hiền, chủ tịch công ti hải sản Bianfishco bị vỡ nợ, các thông tin điều tra cho biết từ năm 2003 bà đã làm chủ một căn nhà giá hơn một triệu đôla trong khu sang trọng Beverly Hills gần thủ đô điện ảnh Hollywood. Hiện nay bà đang rao bán căn nhà đó với giá gần 3 triệu.
Theo số liệu của National Association of Realtors (NAR) thì doanh nghiệp bán nhà cho người nước ngoài trong năm 2010 có số thu 82 tỉ đôla, so với năm 2009 là 60 tỉ. Người nước ngoài mua nhà ở Mỹ nhiều nhất ở bang Florida, với 31% số thương vụ. Đứng thứ nhì là California, sau đến Texas và Arizona. Phần đông họ đến từ những quốc gia Mexico, Philippines, China, India và Việt Nam.
Trong các giao dịch bán nhà cho người nước ngoài, cũng theo số liệu của NAR, 62% trả hết một lần bằng tiền mặt.
Không chỉ những người nước ngoài mua nhà giá vài trăm nghìn đôla và đã trả hết ngay, có doanh nhân mua cơ sở thương mại giá mấy chục triệu cũng trả hết bằng tiền mặt.
Ông Tràm Bê, chủ tịch công ti chế biến thực phẩm Son Son Co. ở Việt Nam vào năm 2009 đã mua khu thương mại Wallco Shopping Mall rộng 50 mẫu toạ lạc tại thành phố Cupertino, cạnh San Jose với giá 64 triệu đô. Ông trả số tiền lớn này bằng tiền mặt.
Một số công ti từ Việt Nam đã mua khách sạn, cơ sở thương mại ở California, Texas.
Nhiều người Việt Nam cũng đã mua nhà ở Mỹ. Với quan hệ hai nước phát triển, số sinh viên qua Mỹ du học ngày càng đông, nhiều sinh viên Việt chỉ sau thời gian ở Mỹ một đôi năm đã mua nhà. Đó là cách tính có lợi tài chánh cho bản thân và gia đình vì ở Việt Nam phải là người giầu mới có khả năng cho con em qua Mỹ học, một năm tốn vài chục nghìn đôla, vì thế chuyện mua một căn nhà giá vài trăm nghìn ở Mỹ trong lúc này không phải là điều khó khăn. Mua nhà tiết kiệm được tiền thuê và cũng là cách đầu tư lâu dài.
Sống ở Mỹ đã gần 40 năm, tôi có lời chào mừng gửi đến ông Phạm Đình Nguyên và những người đã chọn Hoa Kỳ để làm thương mại, hay về lâu dài làm nơi sinh sống. Nước Mỹ quả thực là xứ sở của tự do và cơ hội, là giấc mơ của nhiều người như ông Nguyên đã nói với báo chí sau khi mua được thị trấn Buford.
Khó khăn sắp đến là việc điều hành cơ sở thương mại ông vừa làm chủ, dù chỉ là một cây xăng và tiệm tạp hoá nhỏ. Nếu ông Nguyên trả tiền mua nhà hết thì mừng cho ông không vướng nợ nhà vì đó là một gánh nặng tài chánh trong đời sống Mỹ. Nhưng còn nhiều thứ khác cần chi mỗi tháng là các khoản tiền ga điện nước, tiền bảo hiểm, bảo trì cơ sở, bảo hiểm sức khoẻ, tiền thuế, dù cơ sở làm ăn có phất lên được hay không.
Buford đã một thời có đến hai nghìn dân, nằm trên cao độ 2,500 mét, với nửa năm lạnh buốt và xa chốn phồn hoa đô thị. Ông Phạm Đình Nguyên đang làm chủ một công ti lớn ở Sài Gòn nay lại một mình chọn nơi heo hút làm quê hương, tôi thấy hơi lạ. Hy vọng đây không phải là lối chơi ngông của những đại gia ở Việt Nam ngày nay.
Dù sao cũng chúc ông mọi điều may mắn và thành công nơi xứ Mỹ.
© 2012 Buivanphu.wordpress.com
Trò chuyện cùng Đại Tá Lương Xuân Việt
TRÚC HÀ/Việt Tribune Radio
Đại Tá Lương Xuân Việt, vị chỉ huy người Mỹ gốc Việt tham gia hàng trăm trận đánh lớn nhỏ trên chiến trường từ Châu Âu đến Trung Đông, chọn binh nghiệp chính là vì sự ảnh hưởng lớn lao của thân phụ anh là cựu Thiếu Tá Thủy Quân Lục Chiến của quân đội Việt Nam Cộng Hòa -Lương Xuân Đương. Khi qua Mỹ, ông chưa đầy 10 tuổi và gia đình ông đã chọn thành phố Mountain View, California để sinh sống. Sau khi tốt nghiệp University of Southern California, ông tình nguyện vào quân đội, mang cấp bậc Thiếu Úy Bộ Binh 1987 và được chọn vào danh sách sĩ quan hiện dịch. Đồn trú tại Colorado, ông lần lượt giữ chúc vụ trung đội trưởng rồi đại đội phó Bộ Binh. Ông có khả năng chỉ huy và được đề bạt sang sư đoàn 101 nhảy dù danh tiếng thế giới, lần lượt giữ các chức vụ đại đội trưởng, tiểu đoàn trưởng rồi lữ đoàn trưởng.
Chương trình "Gương Mặt Việt" của Việt Tribune Radio tháng 1 vừa qua đã mời ông chia sẻ những chiến tích & cảm nghĩ về cuộc sống binh nghiệp của ông.
VTR (Viet Tribune Radio): Được biết ông sang Mỹ từ 10 tuổi nhưng tiếng Việt của ông rất lưu loát, có vẻ như ông rất yêu tiếng Việt vì trong lúc nói chuyện ông hiếm khi dùng tiếng Anh chêm vào trong cuộc đối thoại.
Đại Tá LXV: Vâng, tôi nghĩ đó là do sự ảnh hưởng giáo dục từ gia đình của tôi. Và tôi cũng rất yêu tiếng nước mẹ đẻ và sự bảo tồn văn hóa Việt Nam. Vì thế lúc nào tôi cũng cố gắng rèn luyện nói và đọc tiếng Việt.
VTR: Ông được xem như là 1 người hùng, nhất là trong một binh chủng có tiếng như Airborn 101, một lực lượng nhảy dù rất tinh nhuệ của quân đội Hoa Kỳ. Ông có thể cho biết lý do thôi thúc ông gia nhập vào quân đội? Khi nào ông bắt đầu có ý tưởng trở thành quân nhân Hoa Kỳ?
Đại Tá LXV: Tôi không dám nhận những danh hiệu người hùng như mọi người nhận xét vì có những người cấp bậc nhỏ hơn tôi nhưng đã tử trận tại Iraq hay Afghanistan ...Sau bao nhiêu năm chưa có ai công nhận là người hùng vì họ chưa kịp kể hết chiến công của mình thì đã bị thiệt mạng. Theo tôi, những người đó mới chính là những anh hùng của dân tộc.
Còn về lý do gia nhập vào quân đội là do lý tưởng và cũng là sự ảnh hưởng từ hình ảnh oai phong của bố mình. Lúc mùa hè đỏ lửa thì tôi còn nhỏ nhưng cũng đủ nhớ về việc bố tôi đi từ chiến trận về và mặc trên mình bộ đồ Thủy Quân Lục Chiến. Tôi quyết tâm khi đủ tuổi tôi sẽ là một người thanh niên gia nhập quân đội bảo vệ hòa bình và tự do. Tôi hiểu và biết ơn sự hy sinh những người cầm súng bảo vệ đất nước và hòa bình. Có nghĩa là từ nhỏ tôi đã lý tưởng hóa cuộc sống quân nhân và luôn muốn biến niềm đam mê thành sự thật khi đủ tuổi tham gia quân đội.
VTR: Ông có thể nói tóm tắt quá trình tham gia vào những trận đánh lớn nào của quân đội Hoa Kỳ cũng như ông đã chịu trách nhiệm gì trong từng trận đánh đó?
Đại Tá LXV: Tôi tham dự các trận đánh lớn nhỏ, từ Haiti đến Iraq và Afghanistan. Đã từng làm Đại Đội Trưởng Sư Đoàn Dù 82. Sau đó, tôi lại qua làm Trưởng phòng 3 là Trưởng phòng hành quân của tiểu đoàn dù duy nhất ở Âu Châu dưới quyền Lữ Đoàn Dù 73. Lúc đó tôi tham gia vào các trận tại Kosovo nhưng các trận ấy rất nhỏ.
VTR: Trong một lần phỏng vấn cho một tờ báo tại miền Nam California, ông có nói rằng "Cấp bậc mình là máu xương đồng đội". Lý do gì và trong hoàn cảnh nào ông đã nghĩ như vậy?
Đại Tá LXV: Cho đến giờ tôi vẫn nghĩ điều đó đúng 100%. Khi mà tôi là tiểu đoàn trưởng của đơn vị và đánh vào Samarra, khu vực "đỏ lửa" nhất của chiến trường Iraq thì đơn vị của tôi đã tổn thất rất lớn. Phần lớn, các anh em hạ sĩ quan là những người chiến sĩ hy sinh nhiều nhất. Ngày nào các anh em cũng tuân thủ quân lệnh để xông pha chiến trường và chấp nhận nhiều rủi ro hơn là những người chỉ huy như tôi. Lúc nhận được những khen thưởng thì tôi lại là người được cấp trên vinh danh. Thật sự công lao lớn nhất là từ những người anh em này. Vì thế tôi luôn biết ơn những người đồng đội của mình.
VTR: Là một người da vàng, tóc đen, được sinh trưởng tại Mỹ, ông có gặp phải những trở ngại gì trong việc thăng chức và được tin tưởng bổ nhiệm vào những chức vụ quan trọng trong quân đội?
Đại Tá LXV: Về những chức vụ quan trọng thì có lẽ tôi đều đã đạt được như là như Lữ Đoàn Trưởng và tôi cũng được chỉ huy những đơn vị khét tiếng trong quân đội Mỹ như là Tiểu đoàn 2, Trung đoàn 505 nhảy dù là một đơn vị tinh nhuệ được nhiều người biết đến. Sau này, tôi lại chỉ huy Lữ Đoàn 3 của Sư Đoàn 101 cũng là một đơn vị rất nổi tiếng không chỉ riêng ở Hoa Kỳ mà còn được biết đến nhiều trên thế giới. Vì vậy, tôi cho rằng tôi đã không gặp trở ngại gì trên con đường thăng tiến của tôi. Trong lòng tôi, lúc nào tôi cũng biết mình là người da vàng, di dân thiểu số đến đất nước này cho nên làm gì tôi cũng cố gắng hết sức mình như đi học tôi cũng cố gắng đậu thủ khoa, tham gia quân đội tôi cũng cố gắng là một chỉ huy giỏi...và đồng thời tôi cũng có được may mắn từ ơn trên nữa.
VTR: Sau khóa học ngoại giao và chính trị, ông sẽ được bổ nhiệm vào những công việc tại Ngũ Giác Đài. Điều này đối với ông quan trọng ra sao?
Đại Tá LXV: Thường sĩ quan lên chức Đại tá thì phải làm việc ở Ngũ Giác Đài ít nhất là từ 1-2 lần nhưng điều này đối với tôi thì khác. Tôi chưa từng phải đến Ngũ Giác Đài để làm việc có lẽ vì tôi đã tác chiến một thời gian dài ở Afghanistan với chức vụ Lữ Đoàn Trưởng. Thật sự việc đi học khóa ngoại giao và chính trị là việc cần bổ túc cho các sĩ quan cao cấp và tôi thấy mình cần trau dồi thêm mà thôi chứ tôi cũng không nghĩ gì về việc khác.
VTR: Ông đã cống hiến nhiều cho đất nước Hoa Kỳ, ông nghĩ ông sẽ làm gì để cống hiến cho đất nước Việt Nam, nơi tổ tiên, cha mẹ và ông đã được sinh ra?
Đại Tá LXV: Lúc nào tôi cũng nghĩ về điều đó nhưng hiện giờ tôi là một quân nhân Hoa Kỳ và tôi cần làm tốt công việc & bổn phận của mình ở thời điểm hiện tại. Thế giới cũng đang thay đổi rất nhiều. Tôi thật sự không đoán được 10 năm sau mình sẽ làm được việc gì nhưng nếu được đóng góp cho những công việc bảo tồn văn hóa Việt Nam, những hội từ thiện, hội quân nhân hoặc cộng đồng Việt Nam thì tôi luôn sẵn sàng góp sức.
VTR: Xin cám ơn Đại tá LXV đã dành thời gian cho Việt Tribune Radio về cuộc trò chuyện này![TH]
Chuyện trong nhà ngoài phố
VĂN QUANG
Lâu nay tôi cứ ngóng ra ngoài bàn chuyện thiên hạ sự mà quên rằng ngay trong chung cư mình đang sống cũng có khối chuyện vui. Trong tuần này, ngồi trong nhà thôi, cũng biết khá nhiều chuyện “trái khoáy vạy đuôi”.
Nhìn sang lô B trước mặt, thấy hai lá cờ “phất phới bay trong gió” trên tầng 1. Đó là cờ báo hiệu nhà có đám tang, bà cụ mập mạp vẫn ngồi trước hàng hiên đón gió, hôm nay “ra đi”. Ở Saigon, các trại hòm thường cung cấp hai lá cờ này để những nhà có đám tang trong hẻm treo trước lối ra vào cho bà con đến viếng dễ tìm. Có thể là từ chiều nay, hàng xóm láng giềng của mấy dãy nhà chung cư lại đau đầu vì kèn trống, chưa biết chừng đêm lại nghe kèn “bú dích” với vài đội hát hò đến quá nửa đêm làm “điên cái đầu”. Trong khi đó, có chừng vài ba bà mang cái bụng bầu chờ ngày sinh cháu bé. Một ở đầu đời và một ở cuối đời cùng gặp nhau trong ngõ hẹp.
Phía dãy nhà sau lô D, hôm nay lại có đám cưới, dựng rạp hoa lá cành ra giữa đường. Trong khi đó một cặp trong chung cư mới ly dị và… chửi nhau om xòm, kiện cáo đòi chia con, chia của.
Trong mấy lô gần đây cũng có hai ba căn nhà chẳng biết của ai, mua rồi để đó, không thèm ở, có lẽ là của mấy bác ngoài Bắc vào mua… để dành hay là một cách đầu tư mới sau khi ngân hàng hạ lãi suất và còn “dọa” sẽ hạ tiếp. Hoặc có căn nhà vừa mua lại, chủ mới sửa sang cẩn thận nhưng hàng tuần chỉ có 1 người đến quét dọn rồi để làm cảnh, có lẽ là một thứ “phòng tiếp khách riêng” cho ông chủ khi “hữu sự”.
Trong chung cư lại thấy có dăm bảy ông, trước đi làm bằng xe gắn máy, nay mua xe hơi bóp còi tin tin nghe cũng vui tai. Ông bộ trưởng Thăng đang đau đầu vì chuyện đánh thuế xe hơi và đang bị phản đối tá lả bùng binh. Nhưng phản đối cho vui thế thối chứ dân có tiền vẫn cứ mua xe hơi, bất chấp thuế má. Chỉ có dân đi xe gắn máy vẹo xương sườn mới sợ thuế. Hoặc có dăm ba ông, trước cũng xe gắn máy làm chuẩn, bây giờ có xe hơi của nhà nước đến đón. Chả biết nhà nước có hạn chế được loại xe đưa đón này không?
Ở mấy dãy nhà phía trong, vẫn có vài cô gái lấy chồng Đài Loan, chồng Hàn Quốc, mặc dù họ vẫn đọc báo, vẫn biết tin mới đây, ngày 21-1-2012 (tức 28 tháng chạp), cô Phạm Thị Loan đã theo chồng sang Hàn Quốc và chưa đầy 2 tháng sau, cô Phạm Thị Loan bị anh chồng Hàn Quốc là Eom Yang Ock, mắc bệnh tâm thần bóp cổ cho đến chết. Và còn biết bao nghịch cảnh khác nữa, nhưng gái chung cư, có những cô rất xinh xắn vẫn cứ lấy chồng Hàn Quốc, lấy chồng Đài Loan như một cuộc đánh đu với số mạng “nhất chín nhì bù”. Người dân chung cư chỉ còn biết ngậm ngùi thương cô hàng xóm. Nhìn trên nét mặt bố mẹ của cô gái mới theo chồng đi Hàn Quốc, tôi đọc được một nỗi đau âm thầm, một sự nhẫn nhục chịu đựng và nếu như có chuyện bất hạnh xảy ra, chắc họ chỉ còn biết đấm ngực ngàn lần mà than rằng: “Lỗi tại tôi, lỗi tại tôi mọi đằng…”. Còn biết đổ lỗi cho ai đây?!
Nhà thì lên đời, nhà xuống đời làm cái khoảng cách giàu nghèo trong chung cư cũng được nới rộng.
Chết bất đắc kỳ tử và ăn thực phẩm độc hại cũng quen
Đấy, chỉ trong cái chung cư nho nhỏ này thôi mà biết bao chuyện trái khoáy diễn ra hàng ngày. Còn cái chuyện chết bất đắc kỳ tử vì nhà cửa chung cư xuống cấp nghiêm trọng là chuyện “ngàn năm cũ”. Trên hành lang chung cư bỗng dưng rơi ầm ầm mấy mảng xi măng xuống giữa đường đi, vậy mà ra phường trình báo năm lần bảy lượt vẫn chỉ có câu trả lời “Về đi, lát nữa cho người xuống xử lý”. Nhưng mấy năm trôi qua rồi, người của phường vẫn chưa đi được đến nơi xảy ra “sự cố”. Đường xa thật! Cái kiểu sống chết mặc bay này là chuyện hàng ngày ở huyện tại khắp nơi. Nên sống ở chung cư mãi rồi cũng quen. Có bị xi măng rơi trúng đầu là tại cái số thôi.
Ngay cả những ngày gần đây, báo động thịt heo thối, chất tạo nạc ăn vào rất nguy hiểm, có thể mắc bệnh ung thư như chơi hoặc hàng chục thứ bệnh nay y khác, nhưng dân chợ Bàn Cờ vẫn cứ bán, dân chung cư vẫn cứ phải ăn. Vậy mà, may quá, chưa ai chết vì ăn thịt bẩn, hay là có chết vì thực phẩm cũng chẳng ai biết, lại đổ cho bệnh mãn tính, là tại bệnh viện. Nói thật với các cụ, cứ kể đến thực phẩm ở VN thì cái gì cũng có chất độc hại hết. Ăn cái gì cũng có thể thể mang bệnh, cũng có thể chết.
Đọc những tin tức trên báo hàng ngày ai cũng giật mình vi đủ thứ thực phẩm bẩn. Ngay cả đến thứ nước giải khát đóng chai cũng chứa chất độc.
Nói tóm lại, người dân bị thực phẩm độc hại bao vây kín mít, ăn hay uống đều có thể chết. Nhưng người ta không thể không ăn không uống nên lâu dần rồi thành quen. Kể ra người VN lúc này làm quen được với nhiều thứ “kinh khủng” thật. Quen với những cái chết bất ngờ như đang đi đường bị điện giật, sụp hố ga, cây đổ, xe đâm…Tây nghe chắc hết hồn. Các bác ở nước ngoài muốn về VN chơi cũng hết hồn. Còn chúng tôi ở VN thì cứ “vô tư đi”, đợi nhà nước “xử lí”!
Chuyện thú vị trong tuần: Hai cụ cố 91 tuổi muốn kết hôn
Nhưng nói mãi chuyện độc hại chỉ thêm hoang mang đau đầu và chẳng bao giờ có hồi kết. Xin kể đến một thứ chuyện, tôi cho là thú vị nhất vừa xảy ra trong tuần này. Đó là một chuyện rất tình của hai “ông bà cố” mới vừa 91 tuổi muốn kết hôn.
Người dân xã Phú Phụng, huyện Chợ Lách (Bến Tre) đang xôn xao về trường hợp cụ ông Hà Văn Tới và cụ bà Bùi Thị Vinh, cùng 91 tuổi, đến xin cử hành hôn lễ tại nhà thờ xã. Theo cụ Vinh, hai người có nguyện vọng gắn bó phần còn lại của cuộc đời với nhau. Tuy không tổ chức đám cưới, nhưng ông bà mong muốn được nhà thờ Phú Phụng làm thánh lễ (cả hai đều theo đạo Thiên Chúa) và Ủy ban Nhân dân xã Phú Phụng làm giấy hôn thú (ở đây gọi là giấy chứng nhận đăng ký kết hôn). Tuy nhiên, đến nay việc này vẫn chưa thành do vấp phải sự phản đối kịch liệt từ phía con, cháu hai bên. Thậm chí chú rể còn bị người thân của cô dâu lớn tiếng chửi bới.
Bị con cháu ngăn cản quyết liệt
Kể chuyện quyết định kết hôn với cụ Tới, cụ Vinh nói rằng chồng mất hơn 40 năm, con gái ruột đã yên bề gia thất bên tỉnh Trà Vinh nên nhiều năm qua bà ở một mình. Hai đứa con nuôi thỉnh thoảng mới đến thăm. Bà rất muốn có người bạn già bên cạnh để sớm hôm tâm sự, giúp đỡ lẫn nhau mỗi khi trái gió trở trời. Cụ cho biết: “Các con cháu tôi không chịu hiểu điều này, mà cố ngăn trở làm tôi thấy rất buồn và cô đơn”.
Theo con gái cụ Vinh thì mẹ chị lú lẫn, đã gần đất xa trời nên không thể “đi bước nữa”. Tuy nhiên, khi tiếp xúc với mọi người bà cụ vẫn tỏ ra thông thái, giọng hào sảng, đặc biệt là nét mặt trông trẻ hơn tuổi rất nhiều.
Còn chú rể Tới, từ ngày bị ngăn cản kết hôn với cô dâu Vinh đến nay ông cũng không được con cháu cho gặp người lạ. Người con trai ngoài 30 tuổi của cụ Tới nói rằng nếu kết hôn chắc cha anh phải “vô hòm” vì đã quá già. Theo con trai cụ Tới, trước đây bà cụ Vinh làm ở nhà bảo sanh nên có nhận đỡ đầu cho người thân trong gia đình anh. Vì vậy, hai ông bà cụ già trở nên thân thiết với nhau. Người con khẳng định: “Nhưng tình cảm ấy nếu vượt quá giới hạn làm bà con đàm tiếu, soi mói thì tôi không chấp nhận, nhất quyết ngăn cản cha kết hôn.”
Chính quyền xã và độc giả nghĩ gì?
Ông Nguyễn Văn Giang, Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã Phú Phụng nói với báo chí: “Các con của hai cụ già không có quyền ngăn cản cha mẹ kết hôn vì chồng bà Vinh và vợ ông Tới đều đã mất. Bởi vậy cuộc hôn nhân này không trái pháp luật. Ông nói thêm: “Đúng ra con cháu phải ủng hộ tâm nguyện của hai cụ. Vài hôm nữa chúng tôi sẽ họp để giao cho hội phụ nữ, ban tư pháp và hội người cao tuổi đến tìm hiểu, vận động con cháu hai cụ xem có đạt kết quả tốt hay không. Nếu được thì xã vẫn cấp giấy kết hôn khi hai cụ hoàn chỉnh các giấy tờ tư pháp có liên quan.”
Cùng quan điểm này, luật sư Nguyễn Văn Đức (Đoàn Luật sư TP Cần Thơ) cho biết nếu hai cụ có đủ năng lực hành vi dân sự, vợ chồng hai bên đã mất thì UBND xã Phú Phụng có quyền cấp giấy chứng nhận kết hôn cho hai người. Hiện Luật hôn nhân gia đình không quy định mức tối đa bao nhiêu tuổi thì không được kết hôn.
“Luật cấm kết hôn với người mất hành vi dân sự, nhưng con của hai cụ không thể nói cha mẹ lú lẫn để lấy đó làm lý do cản trở, mà phải có giấy tờ giám định của cơ quan chức năng.”
Đã có rất nhiều ý kiến trên các phương tiện thông tin ủng hộ quyết định kết hôn của hai cụ. Riêng tôi, và tôi nghĩ chắc chắn sẽ có nhiều bạn đọc ủng hộ hai cụ này. Tình yêu không có tuổi và một điều giản dị và quan trọng hơn hết là vào cái tuổi già, cần có một người tâm sự gắn bó, săn sóc lẫn nhau, lúc đó mới biết thật sự mình còn được sống, được chia sẻ, được yêu thương như mọi người. Phương ngôn chúng ta đã có câu: “Con chăm sóc cha không bằng bà chăm sóc ông.” Những người con của hai cụ cần hiểu điều này. Xin lấy một lời bình luận của một trong số hàng trăm ý kiến của bạn đọc làm kết luận:
“Chúc mừng 2 cụ, mong 2 cụ sớm tìm được bình yên, thỏa niềm vui tuổi già. Xin gửi tới những người con, người cháu 2 cụ 1 điều: Làm con, làm cháu mà không hiểu được nỗi niềm của đấng sinh thành, đấy là bất hiếu, dù các người có chăm lo cho họ tốt đến nhường nào đi nữa.”
Chuyện bên Tây còn vui hơn nhiều
Những người con của cụ ông Tới và cụ bà Vinh hãy nhìn sang…bên Tây, già khằng khú đế mà vẫn còn lấy vợ.
Một cụ ông ở bang Illinois vừa tổ chức lễ sinh nhật lần thứ 110 vào cuối tuần vừa rồi và được công nhận là người già nhất của nước Mỹ.
Cụ Shelby Harris sinh ngày 31/3/1901, có hai đời vợ và ba con gái. Hai người vợ của cụ đã qua đời vì tuổi già. Người cháu ngoại trẻ nhất của cụ năm nay 57 tuổi.
Cụ Harris nói đã thấy đủ thứ trong đời nhưng vẫn còn hai điều ước, một là được chơi bóng chày thêm một lần và hai là làm đám cưới thêm một lần nữa.
Trong ngày sinh nhật lần thứ 110 này, cụ được mời đến ném quả bóng đầu tiên trong trận khai mạc của giải đấu bóng chày tại địa phương. Vậy là chỉ còn một tâm nguyện nữa. Cụ tỏ ra rất quyết tâm làm đám cưới ngay trong tuần tới, tuy nhiên vẫn chưa biết cô dâu là ai.
Cụ ông 112 tuổi lấy vợ 17
Hàng trăm người đã dự đám cưới của chú rể tự cho là mình 112 tuổi, với cô dâu là một thiếu nữ, diễn ra ở miền trung Somalia.
Ông Ahmed Muhamed Dore, đã có 5 vợ và 18 con, hân hoan tuyên bố ông muốn có thêm con với tân nương là cô Safia Abdulleh, 17 tuổi.
Đài BBC trích lời cụ Dore nói sau khi tiệc cưới kết thúc: “Hôm nay đấng tối cao đã biến giấc mơ của tôi thành hiện thực.” Phía gia đình cô dâu cũng cho biết cô “hạnh phúc với người chồng mới”.
Trông người lại ngẫm đến ta, so với thế giới, hai cụ Tới và Vinh… còn “trẻ lắm”. Một lần nữa chúc mừng hạnh phúc của hai cụ. Và mong hai cụ sống trong “một mái nhà tranh hai trái tim vàng”. Không cần tới căn nhà triệu đô nhưng cũng đừng ở trong căn nhà như cái lỗ chó chui giữa Hà Nội.
Văn Quang
06-4-2012
Những tỷ phú đỏ Trung Quốc
ANH VŨ / RFI
Trong những ngày đầu tháng Tư này, rất đông tỷ phú Trung Quốc đổ xô về khu nghỉ mát sang trọng Tam Á trên đảo Hải Nam để mua sắm những những món đồ dành riêng cho giới thượng lưu. Đặc phái viên của báo Liberation có bài phóng sự về hội chợ ở Hải Nam qua đó đã phác họa phần nào chân dung và mức độ giàu có của các đại gia đỏ ở Trung Quốc ngày nay, nơi mà sự thông đồng giữa quyền lực và tiền bạc đang ngày càng gây phẫn nộ trong dân chúng.
Tác giả bài báo cho biết khoảng 300 triệu phú và tỷ phú Trung Quốc đã đổ về đảo Hải Nam trong những ngày qua để sắm cho mình một du thuyền, một chiếc xe Rolls-Royce hay một chiếc máy bay riêng và cũng có khi là cả ba thứ một lúc. Những ngày này, các khách sạn 5 sao trong khu nghỉ mát sang trọng Tam Á như Ritz-Carlton, St Regis hay Hilton đều chật kín khách đến tham dự “Điểm hẹn Hải Nam” lần thứ 3, một hội chợ mua sắm siêu sang dành cho giới nhà giàu ở Trung Quốc.
Dưới bến cảng người ta thấy neo đậu hàng chục chiếc du thuyền đủ loại từ dài 12 đến 50 mét, với giá bán từ vài chục triệu đến cả trăm triệu đô la. Người ta cũng có thể bắt gặp các ông chủ mới giàu, quây xung quanh là cả một đoàn tùy tùng gồm người thân và vệ sĩ, lượn hết gian hàng này đến gian hàng khác trong dáng vẻ huênh hoang của những tay trọc phú khoe của. Một người bán máy bay cá nhân của hãng Falcon Dassault giải thích với phóng viên Libération rằng, cứ nhìn vào quy mô đoàn có thể đoán được có phải tỷ phú hay không. Nhưng đôi khi người ta cũng có thể nhận ra một tỷ phú Trung Quốc qua bóng dáng người phụ nữ đi cùng, thường thì đó là một cô gái trẻ chân dài, đeo trên mình đầy trang sức.
Với những nhà sản xuất du thuyền của Mỹ, châu Âu kéo tới đảo Hải Nam thì chính những khách hàng giàu có của Trung Quốc này là chiếc phao cứu họ. Ông Fabrizio Sgariglia, đại diện nhà sản xuất du thuyền nổi tiếng Perini của Ý cho biết “chúng tôi đặt hy vọng nhiều vào thị trường Trung Quốc, vì công việc làm ăn của chúng tôi ở Mỹ và châu Âu không còn tốt như trước nữa”. Theo ông, người Trung Quốc thích lối sống châu Âu, và vì thế họ cũng yêu những thứ đồ chơi này.
Hiện tại ở Trung Quốc đại lục mới chỉ có hơn 100 người sở hữu du thuyền loại 12m đến 18m. Nhưng thị trường này đầy hứa hẹn vì số lượng đại gia Trung Quốc đang tăng mạnh. Theo tạp chí Hurun Report chuyên về giới nhà giàu Trung Quốc, năm nay Trung Quốc có khoảng 63,500 người có tài sản ít nhất 15 triệu đô la. Tức là tăng thêm 3,500 người so với năm ngoái. Năm 2011, chủ yếu nhờ vào thị trường Trung Quốc mà hãng Prada đã tăng lợi nhuận thêm 72%.
Tại hội chợ Hải Nam người ta còn có thể bắt gặp được nhiều dịch vụ khác chào mời giới nhà giàu Trung Quốc như ngân hàng bảo đảm giữ bí mật tài sản. Với những ai muốn di cư ra nước ngoài thì có dịch vụ tư vấn làm thẻ xanh của Mỹ (thẻ định cư) cho cả gia đình và những mẹo để có thể di cư sang Anh Quốc hay bất kỳ đâu đó sinh sống.
Tác giả bài phóng sự cho biết, trong những ngày hội chợ, trong các khách sạn ở Tam Á, liên tục diễn ra những buổi dạ hội với hàng trăm khách tham dự. Ở đó người ta thấy những tay trọc phú cặp kè bên những quan chức chính phủ hay đảng. Cũng là điều dễ hiểu vì hiện nay phần đông các triệu phú Trung Quốc còn nắm những chức vụ chính trị trong chính quyền địa phương hoặc trung ương.
Nếu hầu như tất cả người dân Trung Quốc vẫn phàn nàn mối liên minh giữa quyền lực và tiền tiền bạc thì ở đây nó lại là một cái gì đó rất hiển nhiên. Theo tác giả thì không có sự thông đồng này chắc hẳn sẽ ít đi rất nhiều những khối tài sản kếch sù rất khó lần được nguồn gốc thực sự của nó ở Trung Quốc. Tác giả nhắc lại chuyện tuần trước ở Trung Quốc có hai sinh viên đã viết trên blog yêu cầu chủ tịch Hồ Cẩm Đào công khai tài sản của mình để làm gương trong chiến dịch chống tham nhũng. Hai công dân tiên phong này sau đó đã bị bắt ngay lập tức.
Để thêm thông tin về những tỷ phú đỏ ở Trung Quốc ngày nay, Libération trích dẫn con số trên tạp chí Hurun Report cho biết 70 đại biểu giàu nhất Quốc hội Trung Quốc nắm giữ một khối lượng tài sản lên tới xấp xỉ 90 tỷ đô la. Tức là gấp 12 lần tổng số tài sản của 535 nghị sĩ Quốc hội Mỹ.
Kết thúc bài phóng sự tác giả dẫn lời một tài xế lái taxi tại Hải Nam: “Đúng là dưới thời Mao, người ta ăn không đủ no, nhưng ít ra là không có tham nhũng, bất bình đẳng! Trung Quốc ngày nay thực sự cần phải có một cuộc cách mạng mới.”-Nguồn RFI.
Phỏng vấn Hoàng Xuân Sơn về nhạc Trịnh - Phần 3
Phần 3 / Tiếp theo và hết
20. Chuyện Trịnh Công Sơn được hoãn dịch hay trốn lính, theo hiểu biết của ông ra sao?
- Chuyện Trịnh Công Sơn trốn lính là có thật! Anh không hề có một giấy tờ hoãn dịch nào lận lưng. Thời còn ở CPS/Quán Văn, mỗi khi cần đi đâu bằng xe gắn máy, rất hạn chế và thường là do Trịnh Xuân Tịnh em ruột của anh đèo đi. Trịnh Công Sơn rất thận trọng, dặn Tịnh luôn luôn dòm trước ngó sau lúc di chuyển để tránh những nút chặn của cảnh sát, quân cảnh… Thông thường thì anh chỉ thả bộ quanh quanh phố phường vui chơi với bạn bè. Trịnh Công Sơn lúc bấy giờ đã là một khuôn mặt được nhiều người biết đến, theo lời anh kể lại, có hôm bị quân cảnh chặn xét giấy tờ, viên chức kiểm soát nhận ra anh và để cho anh đi thay vì bắt giữ.
Ngược lại, một điều khôi hài là Trịnh Công Sơn lại “quen lớn” với nhiều nhân vật trong chính quyền lẫn quân đội, đặc biệt là Không quân, như Chuẩn tướng Lưu Kim Cương mà khi tử trận được Trịnh Công Sơn sáng tác ca khúc chiêu niệm “Hát cho một người nằm xuống” nhiều người biết, như Đại tá Phan Phụng Tiên, Thủ tướng và sau là Phó Tổng thống Nguyễn Cao Kỳ… Nhớ có lần tôi đã được tháp tùng Trịnh Công Sơn với một số bằng hữu văn nghệ - có xe quân cảnh hụ còi đưa rước - vào phi trường Tân Sơn Nhất, đến câu lạc bộ Mây Bốn phương dự dạ tiệc do Tướng Kỳ khoản đãi. Đêm hôm ấy có Trịnh Công Sơn – Khánh Ly, nhạc sĩ Phạm Đình Chương, Miên Đức Thắng, Ngô Vương Toại, Trần Xuân Kiêm (Chơn Hạnh), Hoàng Thi Thao, Hoàng Ngọc Tuấn, Hoàng Xuân Giang. Một lần khác, từ Huế vào Đà Nẵng thăm bạn là Quý Thuận được di chuyển bằng công xa của Ty Cảnh sát Thừa Thiên có cận vệ đi theo. Chuyến đi có Trịnh Công Sơn, Trịnh Quang Hà, em của Sơn, Nguyễn Thế Phồn, em Thiếu tá Nguyễn Thừa Dzu, Phạm Nhuận và tôi.
Sau một thời gian trốn quân dịch, đa số là ẩn náu tại Quán Văn, Trịnh Công Sơn theo lời khuyên của bạn bè thân cận đã nhịn ăn, xuống cân, ra trình diện nhập ngũ, được trả về vì không đủ tiêu chuẩn. Sau đó hình như anh được hoãn dịch vì lý do sức khỏe?
21. Ông có xem phim Đất khổ về cuộc đời Trịnh Công Sơn trước năm 1975 chưa? Xin ông cho biết ý kiến.
- Tôi chưa được xem phim Đất Khổ. Nhưng thời gian thực hiện phim này, tôi hay đi với anh Sơn đến nhà đạo diễn Hà Thúc Cần, lúc này anh Lưu Nguyễn Đạt hay đưa Trịnh Công Sơn lui tới bằng xe hơi. Tôi chỉ có một góp mặt nhỏ trong phim này, nơi đám đông sinh viên phản chiến, nhưng nghe nói cũng có tên ghi trong thành phần phụ diễn.
22. Trịnh Công Sơn đã viết trong thời chiến tranh:
Bao nhiêu năm còn nô lệ
Anh em ta nhận vũ khí
Quê ta bãi hoang chiến trường
Diệt nhau như thú
Trôi bao nhiêu dòng máu đỏ
Bao yêu thương lùi trong quá khứ
Ôi giấc mơ thanh bình còn quá xa…
[Hát cho quê hương Việt Nam, cuốn số 5]
Nhưng có người cho rằng cho rằng Trịnh Công Sơn bênh vực hay đứng về phiá cộng sản. Nhận xét của riêng ông ra sao?
- Mọi tranh cãi về vị thế chính trị của Trịnh Công Sơn đối với đất nước Việt Nam cho tới giờ phút này dường như vẫn chưa ngả ngũ. Trịnh Công Sơn là quốc gia hay cộng sản? Chung quanh vấn đề này đã xuất hiện nhiều bài viết từ nhiều phía: phía binh vực Trịnh Công Sơn rất hiếm hoi, phía quy kết là cộng sản gộc hay “ăn cơm quốc gia thờ ma cộng sản” thì rất đông đảo, phía những người thương và hận Trịnh Công Sơn tức vẫn yêu nhạc Trịnh nhưng hận ông về sự lựa chọn phản bội; và cánh hùa theo đánh hôi Trịnh Công Sơn để tự đánh bóng mình đông đảo không kém.
Theo nhận định rất chủ quan của tôi, với tư cách một người bạn đã từng sinh hoạt chung với nhau nhiều năm: THỜI ĐIỂM BẤY GIỜ Trịnh Công Sơn chưa hề là cộng sản! Những ca khúc của anh, cụ thể là Ca khúc Da Vàng, chỉ mang tính chất phản chiến, cho dù có quy kết những ca khúc này làm lợi cho địch, cũng không thể chối bỏ khuynh hướng nhân bản chống lại cuộc chiến phi nhân tương tàn. Nếu Trịnh Công Sơn là một cán bộ cộng sản gộc, có bề dày tuổi đảng, thì không thể viết: “Hai mươi năm nội chiến từng ngày…”. Trừ trường hợp, là giả thiết, Trịnh Công Sơn là một điệp viên cộng sản cao cấp, che dấu hết mọi căn cước của mình để ăn dầm ở dề trong lòng địch làm công tác ru ngủ đối phương tạo thành tích lớn cho “cách mạng”. Tôi không tin như thế. Vì quả đúng vậy thì Trịnh Công Sơn sau 75 sẽ trở thành một anh hùng dân tộc của phía bên kia. Nhưng Trịnh Công Sơn không hề được công kênh và chỉ là một con chốt trên bàn cờ thí.
Sau này, khi gặp lại Trịnh Công Sơn một lần duy nhất ở Canada, một vài bạn cũ, và chính tôi cũng nhận thấy anh có phần biến chất: một người đã từng được hưởng ơn mưa móc của chế độ mới qua cách suy nghĩ, diễn đạt và ứng xử. Như thế, từ thời điểm này, bảo Trịnh Công Sơn là người của cộng sản cũng không ngoa.
23. Trịnh Công Sơn có nhiều người yêu và nhiều cuộc tình đổ vỡ. Quen thân với nhạc sĩ cũng như Khánh Ly, theo ông quan hệ Trịnh Công Sơn và Khánh Ly ra sao?
- Anh Phú có tin là giữa người nam và người nữ kề cận nhau mà chỉ có tình bạn không thôi? Chuyện khó tin mà có thật: Trường hợp Khánh Ly và Trịnh Công Sơn. Hai người đã sinh hoạt khăng khít biết bao nhiêu năm mà không hề nảy nở một tình yêu trai gái thì cũng kể là lạ. Tôi thấy Trịnh Công Sơn chỉ xem Khánh Ly như một người bạn, đối xử như một người em với lòng thương mến trong gia đình ruột thịt. Ngược lại Khánh Ly lúc nào cũng THƯƠNG - tôi viết hoa chữ “thương” - và vô cùng kính nể anh Sơn. Lúc Khánh Ly mới đến với bằng hữu Quán Văn, không hiểu sao tất cả bọn tôi đều xem Lệ Mai - tên thật của Khánh Ly - là một người bạn đáng mến, có lẽ tại tính tình thẳng thắn, cởi mở và hòa đồng của Khánh Ly. Nàng không nề hà thức khuya dậy sớm với bọn tôi, cơm hàng cháo chợ, thậm chí chui vào rạp xem xi nê hạng bét vừa xem vừa gặm bánh mì. Rất nhiều đêm sau sinh hoạt ca ngâm hát hò với nhau, Khánh Ly đã ở lại Quán Văn, ngủ lại, một mình thân nữ giữa đám bạn trai nằm la liệt mà không hề có chuyện gì xảy ra. Đúng là “như chuyện thần tiên” phải không anh Phú?
24. Mới đây, trong nước có xuất bản cuốn Thư tình gửi một người với khoảng 100 bức thư Trịnh Công Sơn viết cho Ngô Vũ Dao Ánh trong thời gian dậy học ở B’Lao. Cuộc tình này dường như nhạc sĩ giữ rất kín, vì người ở chung phòng là Nguyễn Thanh Ty cũng không biết gì nhiều. Ông có bao giờ nghe nói về chuyện tình này?
- Thời gian Trịnh Công Sơn ở Quán Văn, thỉnh thoảng có thấy Dao Ánh đến thăm anh. Đây là một người nữ có dáng dấp thướt tha, kiêu sa, qúi phái. Mỗi lần gặp gỡ chúng tôi thấy Trịnh Công Sơn bồn chồn, quýnh quáng như mới hẹn người yêu lần đầu. Anh công nhận cuộc tình này và cho biết anh soạn “Hạ trắng” là dành riêng cho Dao Ánh – “Áo xưa dù nhầu cũng xin bạc đầu gọi mãi tên nhau.”: một tình yêu lớn, với lời hẹn thề tận mãi kiếp sau. Bọn tôi vẫn thường chọc Trịnh Công Sơn về chuyện tình này là “Diễm xưa/Ánh nay” vì Dao Ánh là em của Bích Diễm.
25. Có người cho rằng nhạc sĩ đồng tính, có người nói ông bất lực. Trong tác phẩm Về một quãng đời của Trịnh Công Sơn, Nguyễn Thanh Ty kể lại một lần đi chơi gái, Trịnh Công Sơn đánh rất mau, rút rất lẹ. Có người nói nhạc sĩ có 3 trái thận. Là bạn với nhạc sĩ, ông thấy chuyện tình cảm, tâm sinh lý của nhạc sĩ ra sao?
- Tôi thấy cũng bình thường.
26. Nhận xét của riêng ông về con người Trịnh Công Sơn?
- Trịnh Công Sơn dáng người tầm thước, da ngăm ngăm nhưng thần thái khá rạng rỡ. Anh ăn bận hơi chải chuốt nhưng nom lãng tử, nghệ sĩ với mái tóc bồng và đôi kính cận tròn gọng đồi mồi. Nói chung, bề ngoài anh nhìn dễ mến. Đặc biệt Trịnh Công Sơn có hai bàn tay với mười ngón tháp bút thật đẹp. Có phải tinh hoa phát tiết từ đây theo tướng số? Anh Sơn ăn nói nhỏ nhẹ, nhưng khúc chiết và có sức thuyết phục. Anh đối xử với bạn không đơn sơ hờ hững, nhưng cũng không vồ vập thái quá. Ở anh, ta thấy được sự chân tình và đáng tin cậy trong giao tiếp. Tuy nhiên tính tình Trịnh Công Sơn hơi nhút nhát, hay sợ hãi, nễ vì, sợ mất lòng bạn. Có lẽ đây vừa là ưu điểm, tạo được lòng quan tâm, quý mến đưa đến sự che chở, bảo bọc của người khác, mà cũng là khuyết điểm của anh, bị kẻ dấu lợi dụng, bắt nạt, dụ dỗ, dễ yếu lòng nghe theo. Cụ thể là đám bạn nhảy bưng, nằm vùng như đã nêu.
Đối với những bằng hữu văn nghệ nhỏ tuổi hơn, Trịnh Công Sơn luôn luôn đối xử như bạn bè ngang vai vế, không hề có thái độ đàn anh, không hợm hĩnh dù anh rất thành công.
Trịnh Công Sơn đã có được sự ưu ái của những nhân vật cao cấp của cả hai chính quyền, hai chế độ. Tôi nghĩ chắc hẳn anh cũng phải có điểm son đặc biệt nào đó, ví dụ như lòng chân thành và sự chung thủy trong giao tiếp bạn bè.
27. Người Việt ở Canada, nơi ông sinh sống theo ông có những cách nhìn ra sao về nhạc sĩ Trịnh Công Sơn?
Ở Canada, Montréal là cụ thể nơi tôi sinh sống thì hát nhạc Trịnh cũng nên dè dặt. Mặc dù không có sự chống đối nào dữ dội, nhưng khi chọn lựa trình bày nhạc Trịnh trước công chúng như trong các buổi sinh hoạt của Cộng đồng người Việt, các hội đoàn chính trị, quân nhân… thì cũng có lời khuyên chung chung, truyền miệng nhau là nên kiếm bài bản khác. Tuy nhiên, gạt ra ngoài vấn đề chính trị, người ca diễn cũng như người nghe vẫn còn ưa chuộng nhạc Trịnh, hát trong vòng bằng hữu, “hát cho nhau nghe” hoặc ở những hội hè tư nhân thì rất OK! Không như ở một vài thành phố lớn khác ở Hoa Kỳ, nhạc Trịnh đôi khi bị chống đối, tẩy chay; nhưng cũng vẫn được trình diễn trong những show ca nhạc lớn như Asia, Thúy Nga v.v…
Khoảng năm 1991, lúc Trịnh Công Sơn sang Montréal thăm gia đình, đa số các người em của anh định cư tại đây, và gặp gỡ một số bạn bè cũ là một hành vi cá nhân nhưng cũng có sự vận động chống đối người nhạc sĩ này xuất phát từ nhóm Làng Văn của Nguyễn Hữu Nghĩa từ Toronto, một thành phố khác của Canada, song song với việc kêu gọi tẩy chay cuộc triễn lãm của họa sĩ Võ Đình tại Montréal với sự tham dự của một vài nhân vật thuộc tờ báo Hợp Lưu ở California và nhóm Trăm Con ở Toronto. Nhóm Làng Văn đã quy kết cuộc sinh hoạt văn nghệ này với sự có mặt tình cờ của Trịnh Công Sơn ở Montréal là thân cộng, có bàn tay sắp đạt của cộng sản? Tuy nhiên cũng không có gì đáng tiếc xảy ra. Một bạn văn, cựu cư dân Montréal là anh Đỗ Quý Toàn đã kết luận rằng đây chỉ là “Một cơn bão trong tách trà!”.
28. Những lời ca viết cho quê hương của Trịnh Công Sơn thì gây tranh cãi, nhưng nhiều người yêu thích tình ca họ Trịnh. Có một vài bài ca nào của Trịnh Công Sơn mà ông yêu thích? Tại sao ông lại thích những ca khúc đó?
- “Mưa hồng” là bài tình ca đầu tiên gây ấn tượng mạnh mẽ trong tôi. Lúc được nghe Khánh Ly hát lần đầu tiên, chưa chính thức, lúc chân ướt chân ráo từ Đà Lạt xuống Quán Văn với giọng hát lạ, đầy ma lực. Sau này tôi thích “Quỳnh Hương” vì chất ngọc giản dị và thơ mộng của nó. Cũng có thể nói “Đóa hoa Vô thường”, một tâm khúc khá dài mang chút phong vị thiền. Nói chung, tình ca Trịnh Công Sơn bài nào nghe cũng thấm, nếu chọn được đúng người, đúng giọng.
Tuy nhiên theo tôi loạt nhạc mang nặng chất Trịnh Công Sơn nhất là loạt sáng tác trong Thần thoại Quê hương, Tình yêu và Thân phận. Những ca khúc như “Vết lăn trầm”, “Du mục”, “Phúc âm buồn”, “Lời của dòng sông”, “Cúi xuống” v.v… mang giai điệu kể lể, du mục nhiều hơn, rất hợp với âm vận trầm buồn, đơn thoại của chiếc đàn thùng; gộp lại như một lời kêu trầm thống của kiếp nhân sinh bọt bèo. Loạt nhạc này ít ca sĩ trình diễn vì chắc không hợp với không khí đàn sáo đủ lệ bộ và không gian trình diễn hoành tráng? Về sau một đôi sáng tác của Trịnh Công Sơn có lui về dạng nguyên thủy của thân phận ca này như “Một cõi đi về”, “Lặng lẽ nơi này.”
29. Thời sinh viên ông đã rất văn nghệ, bây giờ nếu có ai yêu cầu ông đàn và hát hai ca khúc của Trịnh Công Sơn, một tình ca và một về quê hương thì đó là hai bài nào?
- Bây giờ vẫn còn văn nghệ anh Phú ơi! (cười). Vẫn hát hò lai rai dù tuổi đời mòn, yếu! Đùa chút thôi. Tình thật lúc nào có sinh hoạt với bạn bè, tôi cũng bắt đầu với “Một cõi đi về” như một thói quen, và nhiều khi cũng được yêu cầu:
Bao nhiêu năm rồi còn mãi ra đi
Đi đâu loanh quanh cho đời mỏi mệt
Trên hai vai ta đôi vầng nhật nguyệt
Rọi suốt trăm năm một cõi đi về…
Không hiểu sao đối với tôi ca khúc này mang một âm hưởng vọng dội ghê gớm: sự hiện diện của cuộc đời, niềm tha thiết, và nỗi trống vắng của hư vô… Có lẽ tại lời ca, cung điệu trầm bỗng theo giọng hát gào thống thiết cùng với sự yến ắng của bạn bè vây quanh?
Nhưng một bài tình ca đúng nghĩa thì phải kể “Quỳnh hương”, ca khúc duy nhất mà tôi thu âm được cho tới giờ này sau khi chia tay Trịnh Công Sơn.
Một bài ca về quê hương? Có lẽ tôi chọn bài ca Trịnh Công Sơn viết sau này về một miền đất quê hương tôi ao ước được ghé thăm mà chưa hề có dịp: “Nhớ mùa thu Hà Nội.”
30. Ông có những nhận xét, phê bình nào khác về Trịnh Công Sơn?
- Có người cho rằng vốn liếng âm nhạc của Trịnh Công Sơn nghèo nàn, không xứng gọi là thiên tài vì giai điệu các ca khúc Trịnh Công Sơn đơn thuần, độc điệu không có gì khởi sắc. Nhưng bởi do đâu mà anh có được sự ngưỡng mộ của đông đảo người nghe? Theo ý rất riêng của tôi, phải chăng những lời lẽ siêu nhiên, trừu tượng, ẩn dụ và khá mới lạ trong ca từ Trịnh Công Sơn:
Bài ca dao trên cồn đá, trên ngai vàng quê nhà…
Đường phượng bay mù không lối vào…
Chim về vào ngày tuổi em trên cành bão bùng…
Đàn bò vào thành phố gieo buồn tiếng hạt chuông…
kết hợp một cách kỳ diệu với những cung nhạc bình thường đơn giản, như thầm thì, như kể lể, đi thẳng vào hồn người một cách lạ kỳ: nghe nhạc Trịnh lúc nào cũng thấy lâng lâng ở cõi phiêu bồng!
Thơ, nhạc đơn giản nhưng hay vẫn có giá trị, không cứ phải cầu kỳ, kiểu cách. Thơ, nhạc cao siêu có cái hay riêng, tầng lớp thưởng ngoạn riêng của nó. Nhạc thuật cao là một ưu điểm đã đành. Nhưng tạo được sự kết hợp hài hòa giữa lời ca ý nhạc, chuyên chở đầy, sâu, thu hút lòng người nghe phải chăng là một điểm son khác?
© 2011 Buivanphu.wordpress.com
Về một cuốn sách có tên “Sát thủ đầu mưng mủ”?
PGS-TS Văn Như Cương (trái) cho rằng thành ngữ cũng phải biến đổi để phù hợp với từng thời kỳ lịch sử nhất định.
Một số "thành ngữ hiện đại" trong Sát thủ đầu chảy mủ qua vài hí hoạ.
ĐỌC BÁO TRONG NƯỚC
Kể từ khi ra đời cũng như bị thu hồi vào tháng 10 năm ngoái, cuốn sách “Sát thủ đầu mưng mủ” đã tạo nên những dư luận trái chiều về ngôn ngữ của giới trẻ thời “a còng”.
Bên cạnh nhiều ý kiến cho rằng, những câu nói như Chuẩn không cần chỉnh, cướp trên giàn mướp, ăn chơi sợ gì mưa rơi…đã làm méo mó ngôn ngữ cũng như làm mất đi sự trong sáng của tiếng Việt, nhiều phản bác cho rằng, đây là một hiện tượng xã hội cần được nghiên cứu cẩn thận bởi có thể giúp cho tiếng Việt thêm phong phú, hợp thời đại.
Và sau gần nửa năm trời “nằm im”, “Sát thủ đầu mưng mủ” trở lại dưới dạng triển lãm để giới trẻ và các chuyên gia ngôn ngữ có thể đưa ra quan điểm của mình về vấn đề nêu trên.
Những câu nói của giới trẻ thời hiện đại tạo nên những luồng ý kiến trái chiều về tính trong sáng của tiếng Việt.
Để có thể giới thiệu ra công chúng lần này, họa sỹ Thành Phong cùng đơn vị phát hành đã bỏ hết những bức tranh nhạy cảm và thay thế bằng một số hình ảnh, câu nói khác như Nhục như con trùng trục, Thần kinh dẫm phải đinh…
Có mặt trong buổi triển lãm để cùng trao đổi về ngôn ngữ của giới trẻ thời “a còng”, nhà giáo PGS. TS Văn Như Cương nhận định: “Thành ngữ cũng có những giai đoạn, biến chuyển cho hợp thời và có những câu ở đây tôi rất thích.
Xưa nay ông cha ta vẫn nói “Cái khó bó cái khôn”, là để chỉ cái đói nghèo ngăn trở chúng ta thành công trong cuộc sống. Đến thời kỳ kháng chiến chống Pháp, cả dân tộc gặp “cái khó” mới “ló cái khôn”, nỗ lực vượt lên mọi khó khăn để chiến đấu và “cái khó ló cái khôn ra đời”.
Tuy nhiên, nếu cứ đói mãi, khó mãi, thì “cái khó ló cái ngu” (một câu nói được thể hiện trong Sát thủ đầu mưng mủ - PV), không có cách nào để chúng ta vươn lên được. Ba câu nói thể hiện sự chuyển biến của ba thời kỳ lịch sử khác nhau chứ hoàn toàn không phải là sự biến đổi ngôn ngữ tùy tiện”.
Cùng với việc chỉ ra dẫn chứng từ “kẹo cu-đơ” khẳng định nhiều người không cho tiếng lóng là hay nhưng dần được mọi người chấp nhận và đến nay trở thành phổ biến, người thầy giáo này cũng cho rằng có những câu truyền miệng hiện nay ít nhiều phản ánh vấn đề thời cuộc như “Dốt như chuyên tu, ngu như tại chức”…
Cũng theo PGS.TS Văn Như Cương, những cách nói như trên của giới trẻ không làm ảnh hưởng tới sự trong sáng của tiếng Việt, mà ngôn ngữ chat mới là vấn đề đáng lưu tâm.
Việc sử dụng chữ viết tắt, tốc ký cần được uốn nắn, nghiêm cấm kịp thời trong các bài kiểm tra hay thậm chí vị hiệu trưởng này còn “nghiêm cấm việc sử dụng ngôn ngữ chat trên diễn đàn nhà trường” vì sự trong sáng tiếng Việt.
Nhiều bạn trẻ cho rằng việc sử dụng những "câu nói hay hay" này trong hoàn cảnh nào mới là vấn đề quyết định.
Có mặt trong buổi triển lãm một số tác phẩm của “Sát thủ đầu mưng mủ” cũng như nghe đánh giá của PGS.TS Văn Như Cương, bạn Thu Huyền (19 tuổi, Cầu Giấy) nhận xét: “Những câu nói này, em nghĩ không ít bạn trẻ, thậm chí người lớn cũng đã nói hoặc nghe nó một cách hào hứng.
Như thầy Cương nhận xét, em cũng nghĩ những câu nói này không ảnh hưởng tới sự trong sáng tiếng Việt. Có lẽ vấn đề nằm ở chỗ, những câu nói này do giới trẻ sáng tạo ra và chưa thể được chấp nhận trong khoảng thời gian ngắn”.
Còn bạn Nguyễn Huy (22 tuổi, Hào Nam) đánh giá: “Em nghĩ về mặt giải trí, những câu này là bình thường và gần như bạn trẻ nào cũng biết một vài câu trong đó. Điều quan trọng là sử dụng chúng cho phù hợp với hoàn cảnh. Giả sử cứ tùy tiện cho vào bài kiểm tra thì rõ ràng đó là không chấp nhận được”. -Vũ Phong, Dân Trí
Vuốt cơn buốt nơi đuôi mắt
Này em,
Cho dù em có vung vẩy đẩy đưa từ chối con số 35 tuổi bảo đó là con tuổi hơi bị nhiều, nhưng vẫn muốn nói với em rằng mọi người ai cũng thế thôi, vẫn đang dò dẫm tìm ra sự kỳ diệu của con số đó, như thể đang tìm kiếm một thênh thang ngang dọc hòng mong sắp xếp lại đời mình. Sau khi đã kéo chính mình qua nửa hoặc gần nửa hoặc hơn nửa đời mình.
Con số 3 với hai nét tròn niết nắn vành vạnh rồi chìm xuống tận cùng – niềm hoan lạc thường là bạn đồng hành với nỗi cô đơn khi lưng lửng khi đầy vơi. Con số 5 lưng chừng lại là con số mang tính kiêu ngạo nằm ngay giữa mười con số duy nhất trên thế gian này – một cực đỉnh của lên cao lộng lẫy, đồng hành một thoái trào tuyệt vọng ảo dị ta bà đấy thôi mà.
Rồi đến một lúc nào đó em sẽ cảm nhận, hạnh phúc của mình dường như đã được chưng cất gấp đôi. Ở tuổi ba mươi lăm, em có thể bất cứ lúc nào cũng dễ vướng phải một kiểu cuộc sống của thực vật - Rằng, tính bền vững thì mãi mãi không song hành với tính tồn tại của mọi tồn tại. Rằng, mọi điều liên quan đến hạnh phúc lại là những điều cần phải được em giăng lưới thép và giữ cho chính em ấm cúng.
Em này,
Thì em hãy cứ phức tạp hóa cuộc đời nếu em muốn, để nhận ra lòng người thuần khiết hay không là do cách em lắng đọng, rồi chắt lọc ra những lần ngồi suy tư trăn trở cho đến khi em nhận thấy ra được những điều mà em muốn biết, để em không bị nhấn chìm trong cái ma trận quay cuồng giữa ảo thật thiện ác. Hóa ra, chính là chỉ để giữ em lại lâu hơn với những điều đáng yêu cho chính cuộc đời em để mà tiếp tục tung tẩy điêu ngoa ẩn nhị. Rồi cũng chính là để em không bị rơi vào những cơn tuyệt vọng giữa đỉnh núi với vực sâu của những ấm ức tủi thân mà em leo hoài không tới. Như con mèo luôn phải đi bằng bốn chân sáng trưa chiều tối, uốn éo đỏng đảnh hay lủi thủi chạy trốn hay ủy mị vớ vẩn, thì em cũng đừng nên xem đó là một diễn biến ngày tháng hỏng bét, rồi đâm ra vương vấn chán chường mất lập trường – rồi em sẽ được cảm giác yên ổn vào một lúc nào đấy thôi mà.
Này em,
Tiếp theo thì biết nói chuyện gì ngoài nói chuyện tình, tuy chẳng biết “mình nói chuyện gì khi mình nói chuyện tình”. Hay chỉ vì đắc chí với cuốn sách này của ngài Raymond Carver quá sức đến nỗi thất chí hết ý, ú ớ tức tối cho rằng tình yêu: đó là một điều đã không thể tránh khỏi, thế thôi. Em có thể hình dung được không, thật ra nó là một kẻ chủ nô khát máu, cứ như diều như gió, như có như không, như mong như chối, như hối như tìm, cứ rình rập cơ hội mà vươn móng vuốt êm ái để quất thêm cái tát vào vùng ngực bên trái, cho nó toạc máu ra, để dụ khuây những-kẻ-ngoan- đạo-tình thì thường lại bất thình lình biến thành những con thú say mồi, mất hẳn cả tự chủ, kiêu ngạo, không biết tự thương bản thân mình mà vồ vập ngược lại kẻ chủ nô kia.
Thì em, hãy cứ cho kẻ chủ nô kia thích thú mê man lang xang, đến nỗi kẻ - chủ - nô – mang – tên - tình - yêu ấy được mải mê với những ánh mắt không cần trang điểm cũng đủ gợi cảm miên man, hay bằng những mỉm - cười - động - từ lên lên xuống xuống mâu thuẫn với nước – mắt – động – từ, cho dù có bất hạnh đi nữa thì mới là say mê, say mê đến độ liên tưởng ngay tức thì đến hình ảnh máu đổ cùng lửa – sớm muộn rồi em cũng sẽ quay về quy phục công nhận sức ảnh hưởng ghê hồn của kẻ chủ nô kia đấy thôi mà.
Thế mới là tình, em nhỉ!
Em này,
Còn muốn nói với em nhiều điều nữa nhưng lần lữa lưa thưa chưa kịp nói ra thì đôi khi cảm thấy, chỉ nên nói điều này rồi thôi. Rằng ở cái khoảng giữa của con số ba và con số bốn của chữ số hàng chục này, đó chính là điểm quy tụ, lắng đọng lại những được mất thua còn ngay chính trong lúc này, và bật sức lên lại với những khôi nguyên còn lại, để chứng minh cho chính em lời nói ông thầy bói hôm trước, “cầm tinh là một chữ Vô”, là một câu nghi ngờ hàm hỗn vu vơ dớ dẩn, hay là một câu định mệnh dã man mà vàng son bóng bẩy.
Em cũng biết mà, rất có thể là trên thế gian này không ai hiểu em, đôi khi ngay cả chính em cũng không hiểu em, nhưng em biết không, rằng trong một ngày ít nhất em phải dành một ít khoảnh khắc để thành thật với chính bản thân em. Thành thật thấy lỗi, thành thật sẻ chia, và thành thật hứa hẹn. Thì em, hãy cứ vuốt cơn buốt ở đuôi mắt, rồi vắt lên mặt một tấm mạng bảo hộ hoang độ, và tiếp tục mê mải hoang khải phạm tội yêu đời đi, nhé em..!
Nhé ta! [LDGC]
Những Ngày Tháng Tù Đầy Không Thể Quên
THANH THƯƠNG HOÀNG
Tôi bị bắt ngày 5 tháng 4 năm 1976, trong cái trò bắt người mà cộng sản gọi là “chiến dịch X2 đánh Văn Nghệ Sĩ phản động”. Chiến dịch X1 trước đó “đánh” tư sản mại bản (tức những nhà tỷ phú người Việt và người Việt gốc Hoa, đa số ở Chợ Lớn). Có 3 nhà tỷ phú người Việt bị bắt là cụ Hoàng Kim Quy (cựu Thượng Nghị Sĩ đệ nhị VNCH), hai anh em vua tầu thủy Phạm Quang Khai và Phạm Quang Hoa. Trước và sau tôi bị bắt vài ngày có hơn trăm người gồm đủ bộ môn văn nghệ Miền Nam (Văn, Thơ, Báo chí, Nhạc, Kịch, đạo diễn điện ảnh, đạo diễn Cải lương có đôi chút tên tuổi). Đa số giam ở T20 (số 4 Phan Đăng Lưu bên hông chợ Bà Chiểu, Gia Định) vài người đi khám Chí Hòa. Khoảng mười tháng sau một số lớn được tha về, chỉ còn mươi người bị quy kết tội “có nợ máu nhân dân” và “chống cộng ở thượng tầng kiến trúc” bị giữ lại. Đây là những “tội” có thể đưa tới tử hình. Sau hai năm tra vấn hỏi cung xong, họ đưa bọn tôi lên trại Gia Trung (xứ sương mù Pleiku) nằm trong khu rừng già, nghe nói trước đây là mật khu của Việt cộng, để lao động khổ sai. Tưởng cũng nên kể ra đây tôi là người trong giới Văn nghệ đầu tiên, mới nhập trại đã bị tống ngay vào “biệt giam” (cachot) khu B1, phòng 11 trại Phan Đăng Lưu. Có lẽ họ tưởng tôi là nhân vật quan trọng, là tay sai của CIA được dựng lên làm Chủ tịch Nghiệp Đoàn Ký Giả Việt Nam hoạt động trong báo giới. Vì ngoài Bắc chức vụ này “to” lắm, do đảng đưa ra và quyền hạn cũng như quyền lợi ngang bộ trưởng. Trong cùng dẫy biệt giam khu B1 có những nhân vật tên tuổi như Thượng Tọa Thích Huyền Quang, Thượng Tọa Thích Quảng Độ, Linh mục Đỗ Bác Ái, Tiến sĩ Mai Văn Lễ (cựu Khoa trưởng Khoa Luật đại học Huế), Luật sư Nguyễn Hữu Doãn, Luật sư Nguyễn Khắc Chính, Nhà văn Doãn Quốc Sỹ, Nhà báo Hồ Văn Đồng, Nhà báo Như Phong Lê Văn Tiến, Nhà văn Nhà báo (nguyên dân biểu) Hồ Hữu Tường. Những người này lần lượt vào biệt giam sau tôi 1, 2 tuần. Đầu dẫy khu biệt giam buồng số 1 là “tướng phục quốc Nguyễn Việt Hưng”. Tôi rất tiếc khi đó không biết nhiều về nhân vật này. Ông là người đầu tiên cầm đầu một số dăm bẩy người trấn trong nhà thờ Vinh Sơn (đường Trần Quốc Toản) đánh CS với vài vũ khí thô sơ, khi CS vào Saigon mấy tháng. Sau đó ông bị CS xử bắn. Vụ “vùng lên” khởi đầu chống đối CS này đã gây tiếng vang rộng lớn làm trấn động dư luận khắp nước khi đó. CS phải điều động bộ đội công an cảnh sát vây hãm quanh khu vực Nhà Thờ mấy ngày liền mới trấn áp được. Tôi nghĩ chúng ta thật vô tình khi ở ngoài này, trải qua mấy chục năm, không thấy một ai nhắc nhở tới ông (người được gọi là tướng Nguyễn Việt Hưng mà dư luận khi đó đồn đãi là biệt danh của Tướng NCK hoặc Tướng cảnh sát NNL ở trong mật khu lãnh đạo cuộc chiến đấu với rất nhiều “hồ hởi phấn khởi”). Theo tôi đây là người chiến sĩ quốc gia can trường bất khuất, dám đứng ra chống CS ngay từ ngày đầu, chúng ta nên tỏ bầy lòng ngưỡng mộ và khâm phục.
Phía sau dẫy biệt giam B1 là dẫy biệt giam B2 có giáo sư Vũ Quốc Thông, ông chủ nhiệm nhật báo Lẽ Sống Mới Ngô Công Minh (vào đầu năm 1975 làm phụ tá Tổng Trưởng Thông Tin), ông Tống Đình Bắc, Trưởng ty Công an nổi tiếng sát cộng Miền Tây, ông chủ Nhà sách Khai Trí và một vài người nữa từng giữ chức vụ cao chế độ cũ. Riêng ông Ngô Công Minh sau khi lên trại tù lao động Gia Trung với chúng tôi hơn tháng thì CS đưa ông đi nơi khác. Từ đó không ai biết tin tức về ông. Có dư luận nói ông bị đem thủ tiêu vì mấy tay tổ văn nghệ, báo chí CS (từng quen biết ông trước kia) muốn cướp không ngôi nhà lớn của ông ở Saigon và vàng bạc của cải. Theo tôi, ông không phải nhà hoạt động chánh trị, chỉ là nhà báo thuần tuý nên không thể bị sát hại vì lý do chánh trị. Khi tù về tôi có dò hỏi tin tức ông nhưng không ai biết một cách chính xác.
Trong thời gian “nằm” biệt giam tôi cũng có vài việc để nhớ xin kể ra đây. Cứ mỗi tháng tù biệt giam được cho ra ngoài cắt tóc. Bọn “thế nhân” chúng tôi tất cả đều bị “gọt” trọc đầu, kể cả vị Linh mục, nhưng với hai vị Thượng Tọa Thích Huyền Quang và Thích Quảng Độ thì cai tù lại bắt để tóc. Hai cụ phản đối, cai tù thản nhiên: “Đó là chính sách Nhà nước!”. Việc thứ hai là vì biệt giam mới làm chưa lắp ống dẫn nước nên mỗi ngày chúng tôi chỉ được từ hai tới ba phút vòi nước ở ngoài thọc vào để làm vệ sinh. Tôi không biết nên thản nhiên chà xà bông gội đầu (bằng xà bông giặt). Đang làm nửa chừng vòi nước rút ra mặc cho tôi nài nỉ. Báo hại đêm đó đầu tôi bị xà bông làm ngứa ngáy khó chịu không tài nào nhắm mắt ngủ yên được. Cũng vì “nước” tôi phải tự “tranh đấu” với mình mãi mới nuốt xong phần cơm tù. Tôi chỉ có 2 cái tô nhựa: một dùng đựng cơm, một dùng đựng canh. Vì phải chứa nước làm vệ sinh (khi đi cầu) tôi nhịn tắm lấy nước chứa vào cái tô lớn mầu xanh. Trong khi đi “làm việc” (hỏi cung) tôi viết mấy chữ bằng bút chì dặn anh tù hành sự để cơm vào nửa tờ giấy báo cũ, còn canh để vào tô nhựa mầu đỏ. Nhưng anh ta đổ hết nước trữ đi, để cơm canh vào 2 cái tô và đặt ngay trên bệ cầu tiêu chưa được dội nước còn nồng nặc mùi phân của mình. Tôi ngồi hơn nửa tiếng đồng hồ nhìn hai tô cơm canh muốn ứa nước mắt tự “tranh đấu” với mình. Ăn hay nhịn? Nếu ăn, khó nuốt trôi miếng cơm vì tởm lợm. Nhưng nếu không ăn sẽ bị đói tới trưa hôm sau. Tôi lại mắc chứng đau dạ dầy từ ngày CS chiếm Saigon nên sẽ khốn khổ lắm. Cuối cùng tôi đành nhắm mắt nuốt vội chút cơm canh lạnh ngắt với hai hàng nước mắt.
Tôi bị nhốt biệt giam hơn 10 tháng, vào một buổi sáng trời âm u, được gọi tên mang đồ ra khỏi buồng giam. Phía chéo buồng giam, tôi liếc nhìn thấy nhà văn Duyên Anh để mặt sát ô vuông cánh cửa sắt phòng giam tập thể hướng về phía tôi nói khá lớn: “Nhớ ghé nhà tao nói với vợ tao…”. Tôi chỉ nghe được tới đây thì bị viên cai tù nạt nộ cấm nói. Thì ra Duyên Anh tưởng tôi được tha về nhờ tôi tới nhà nhắn tin vợ.
Khi đi đến trước sân “nhà khách”trại giam tôi thấy vài người quen ngồi đó với đồ đạc cá nhân lỉnh kỉnh. Chúng tôi chỉ đưa mắt chào nhau. Mấy phút sau họ điểm danh từng người xong còng tay lại đưa lên chiếc xe hơi bít bùng chuyển về cơ quan An ninh nội chính (Nha Công an thành phố Saigon cũ đường Trần Hưng Đạo). Cùng trên chuyến xe có tiến sĩ Mai Văn Lễ, thạc sĩ Vũ Quốc Thông, ông Tống Đình Bắc và một vài người nữa (giờ tôi quên mất tên). Trong lúc ngồi ngoài sân cơ quan chờ làm thủ tục gì đó, các bạn tù của tôi bàn cãi sôi nổi về dự đoán chúng tôi được đưa lên đây làm giấy tờ tha. Có vị còn “cá” một chầu ăn uống linh đình ở Chợ Lớn. Rồi lần lượt từng người được gọi tên đem hành lý đi vào phòng…biệt giam! Tôi được gọi tên sau chót (may mắn cho tôi vì biệt giam hết chỗ(?) - viên công an tiếp nhận tù nói vậy) nên được nhốt vào khu tập thể A (làm từ thời Pháp). Gần 100 người đủ thành phần già trẻ lớn bé, tư sản, chính trị gia, Linh mục, Mục sư, Thượng tọa, Đại đức, trộm cắp, buôn lậu, nhốt chung trong một phòng dài trên 10 mét, bề ngang nhỏ hẹp, u tối, ẩm ướt, thiếu ánh sáng và khí trời. Phòng có 2 “sàn”, sàn trên cao khoảng một mét. Mỗi người được cấp manh chiếu rách cáu bẩn, nồng nặc mùi chua mồ hôi người tích tụ lâu năm đã kết thành “cao”. Ở trên tôi nói may mắn không phải vào lại biệt giam vì mấy tháng sau anh Mai Văn Lễ được thả khỏi biệt giam vào phòng tôi kể cho nghe thảm cảnh trong buồng biệt giam anh đã “chết trong cõi sống” mấy tháng qua. Buồng biệt giam Sở An ninh nội chính được xây từ thời Pháp thuộc có tuổi đời trên mấy chục năm. Tường bẩn thỉu lam nham dầy cáu bẩn đen đúa, sàn xi măng ẩm ướt quanh năm. Mùi mồ hôi, mùi phân nước tiểu người tích tụ bao năm tạo thành một thứ mùi hôi hám khó tả, ngửi phải muốn nôn ọe ngay. Khủng khiếp nhất là cái cầu tiêu đã nứt nẻ và vỡ nhiều mảnh, mỗi khi trời mưa nước từ trong lỗ cầu dâng lên tràn lan khắp buồng với những cục phân chưa tiêu hủy. Nếu mưa lâu khoảng một giờ nước cầu tiêu dâng ngập buồng giam hơn gang tay, tù chỉ còn biết đứng dựa vào tường chờ cho nước rút hoặc ngủ đứng. Và khi nước vừa rút hết, sàn si măng còn ẩm ướt, tù mới ngả lưng nằm thì một hai chú chuột cống khá to, lông lởm chởm ghẻ lở khắp mình trông dơ dáy khủng khiếp chui lên từ miệng cầu, thản nhiên gặm bàn chân tù, đạp đuổi nó cũng cứ gan lỳ không chạy! Có lẽ từ lâu nó sống bằng xương thịt tù bị chết chưa kịp mang đi. Anh Mai Văn Lễ kết luận: “Đúng là tầng chót địa ngục trần gian, có một không hai trên thế giới!”. Tôi được biết Linh mục Hoàng Quỳnh, người lãnh đạo giáo dân khu Bùi Chu Phát Diệm nổi tiếng chống CS bằng vũ lực hồi còn ngoài miền Bắc. Linh mục bị bắt từ ngày đầu tháng 5. 1975, bị giam và chết trong “tầng chót địa ngục trần gian” này. Khi họ đem xác Linh mục đi trên cái băng ca, thân thể teo tóp gầy đét bé nhỏ như đưá trẻ lên 10.
Sau hai ngày đêm 15 chiếc xe vận tải lớn, trước đây dùng chở heo, chở mấy trăm tù ngồi bó gối trên sàn xe chật cứng nhúch nhích cánh tay cũng không được. Với bao gian khổ đói khát trên con đường dài mệt lả người, chập choạng tối chúng tôi tới trại tù lao động cải tạo Gia Trung (thuộc tỉnh Pleiku) nằm trong khu rừng núi hoang vu. Nghe nói nơi này khi trước là mật khu của CS. Trại Gia Trung lúc bọn tôi tới đã có 3 trại giam, mỗi trại cách nhau khoảng cây số. Trại nào cũng đầy nhóc người: từ 700 tới 1000. Tù đa số là các viên chức cấp nhỏ, địa phương quân, nhân dân tự vệ và đông nhất vẫn là tù hành sự từ các nơi đưa tới, có án hoặc chưa có án. Có cả tù chưa đến 10 tuổi, đói quá liều ăn tô bún riêu ở chợ không tiền trả bỏ chạy bị bắt.
Những nỗi đói khổ nhục nhã, sống cuộc đời trung cổ, sách báo đã nói nhiều từ hơn 30 năm, tôi xin miễn kể ra đây. Sự khổ sở nhục nhã chúng tôi còn có thể chịu đựng được. Nhưng cái khủng khiếp nhất đối với chúng tôi là sự vô vọng ngày trở về đoàn tụ với gia đình, với đời sống ngoài xã hội. Bọn cai tù bắt chúng tôi “học tập” chính sách Nhà nước là đem vợ con lên vùng đất tù đầy này cuốc đất trồng khoai sinh sống (như ngoài Bắc đã thực hiện).Tất nhiên chúng tôi không thể làm theo họ. Chúng tôi sẵn sàng hy sinh đời mình chứ không thể để vợ con đã khốn khổ phải gánh thêm tội.
Trong những năm tháng không tên dài dằng dặc như bao thế kỷ sống như cây cỏ như súc vật, chúng tôi hết cả hy vọng hết cả chờ mong thì có những tin tức như những làn gió mát mang theo hơi sống tới: tin đồn về chương trình HO, người Mỹ sẽ cứu chúng tôi đem sang Mỹ. Trong thời gian này các con tôi gửi thư cho tôi nói bóng nói gió là hai hội Văn Bút Quốc Tế và Việt Nam đang ráo riết can thiệp vận động cho anh em cầm bút chúng tôi. Và các con tôi cũng báo tin có nhận được “quà” của hai hội gửi. Thời gian này bọn tù chúng tôi “hồ hởi phấn khởi” lắm. Chỗ nào cũng bàn tán về chương trình HO (mỗi người tán một kiểu toàn có lợi cho mình) với bao hy vọng tốt đẹp. Và chúng tôi cũng hết lời ca ngợi Tổng Thống Carter - vị ân nhân vĩ đại - sẽ lập cầu Không vận đưa chúng tôi từ VN qua Mỹ sống một đời ấm no tự do tươi sáng. Tôi cũng nghe nói tới tên một bà lúc ấy còn rất xa lạ với chúng tôi: bà Khúc Minh Thơ. Biết bao giai thoại đồn đại thêu dệt về bà được dựng lên. Qua câu chuyện và lời bình luận của anh em tù, tôi có cảm tưởng bà Khúc Minh Thơ như một bà tiên đang cầm cây đũa thần giúp chúng tôi từ vực thẳm lên.
Rồi ngày tháng tiếp tục lặng lẽ trôi qua, tất cả mọi việc vẫn như cũ không có biến chuyển gì xẩy ra, chúng tôi lại tiếp tục buồn nản thất vọng lê cái thân tù đầy mòn mỏi héo hắt trong quốc nạn khổ sai. “Mong nhưng không đợi không chờ” như câu thơ của Giáo sư Vũ Quốc Thông làm và đọc cho tôi nghe.
Sau gần 10 năm thân thể rã rời hư hao chỉ cỏn bộ da bọc xương, tinh thần suy sụp chán nản chẳng còn gì để mong để chờ và cũng hết cả “cú” tha bất ngờ thì anh Doãn Quốc Sỹ được gọi tên tha, năm sau anh Hồ Văn Đồng rồi thời gian sau nữa là giáo sư Vũ Quốc Thông. Những người này được tha về làm sự hy vọng tưởng tắt ngấm trong chúng tôi lại lóe lên, dù là ở cuối đường hầm mù mịt.
Có lẽ do nguồn từ gia đình ký giả Cao Sơn lên thăm nuôi nói đài VOA vừa loan tin tôi và họa sĩ CHÓE (Nguyễn Hải Chí) hiện bị giam tù ở trại Gia Trung, Pleiku. Thế là ầm cả trại đến nỗi viên quản giáo đội tôi cũng tò mò hỏi anh tù nấu nước có biết tôi không và hiện ở đội nào (vì đài VOA chỉ loan bút hiệu của tôi nên anh ta không biết). Báo hại tôi từ khi có tin này không được tự động đi gánh phân người từ trại ra ngoài đồng nữa. phải về đội cuốc đất chặt cây đào mương như mọi anh em tù khác. Gánh phân tuy có vất vả bẩn thỉu hôi hám mất vệ sinh thật nhưng chỉ nửa buổi là “thanh toán” xong các hố xí. Thời gian còn lại thoải mái xuống suối tắm giặt và đi “va tạt linh tinh” kiếm củ khoai mì hay vài cọng rau lang “cải thiện”cho “ấm” cái bụng thường trực rỗng. Nếu tôi nói đã hơn một lần “tự động” ăn…phân người, có lẽ nhiều người không tin cho là tôi nói quá để kể khổ thân phận tù đầy dưới chế độ cộng sản. Lần thứ nhất quãng hơn 10 giờ, tôi vừa đói vừa khát ghé vào chỗ chòi đun nước uống của đội để uống nước. Anh bạn được phân công đun nước, nguyên đại úy cảnh sát quốc gia, vốn quý mến tôi, thấy tôi đến, anh mắt nhìn chỗ khác nhưng miệng nói nhỏ: “bác đi tới phía bụi cây bên trái”. Tôi biết là “có gì” rồi. Tới nơi nhìn vào trong bụi cây tôi thấy nửa trái dưa chuột nhỏ. Tôi cầm lên bỏ vào miệng nhai liền. Có lẽ trong đời tôi chưa bao giờ ăn miếng dưa chuột ngon đến thế (tôi vốn không thích ăn dưa chuột). Vừa nuốt xong nửa phần dưa chuột tôi chợt nhớ ra, ngừng nhai, tiến lại chỗ anh bạn đun nước, nói: “Này ông ơi, có phải trái dưa này “tẩm” phân người?”. Anh bạn gắt nhẹ: “Đã bảo, bác cứ ăn đi, không chết đâu mà sợ!”. Nghe anh bạn nói, tôi biết mình đã lỡ ăn rồi (hơn nữa cũng tại đói) nên tiếp tục cố nhai và nuốt nốt phần dưa chuột còn lại. Nguyên do thế này. Trong vườn ươm giống của đội trồng rau có một dàn dưa chuột. Khi dưa mới kết trái to hơn ngón tay đã bị tù (và cả cai tù) hái trộm ăn hết nên ban giám thị trại tù ra lệnh lấy phân tươi của người hòa với nước rồi hàng ngày quết vào những trái dưa chuột cho hết bị trộm. Nhưng tù vẫn hái trộm ăn sau khi rửa sơ qua. Thế là lần thứ nhất tôi ăn phân người. Lần thứ hai thì chính do tôi (và mấy ông bạn) chủ động ăn phân người. Tôi và mấy “đồng sự” được “bố trí” dọn phân cầu tiêu các phòng giam. Một số anh em tù hình sự ra ngoài đồng làm việc đã hái và ăn tươi nuốt sống các trái bắp. Vì ăn trộm nên không kịp nhai (sợ cai tù thấy) các bạn tù hình sự cứ thế mà nuốt. Bắp già hạt cứng dạ dầy không tiêu nổi, hôm sau đi cầu ra nguyên cả hạt. Chúng tôi lúc đầu còn sợ bẩn sợ hôi và bệnh nhưng sau khi sôi nổi “bàn thảo”, chúng tôi đi tới việc lấy những hạt bắp này đem ra suối rửa, luộc hai ba lần cho hết mùi hôi rồi ăn một cách ngon lành thoải mái! Nhiều bạn tù biết chuyện cũng xin ăn ké. Tôi được “ấm bụng” ít ngày thì bị “ngưng công tác” (vì tin đài VOA loan?). Đó là hai dấu ấn khủng khiếp trong trại tù cho tới ngày hôm nay, mỗi khi nghĩ tới tôi vẫn không khỏi rùng mình tự hỏi không hiểu sao mình lại có thể “ghê gớm” đến thế!.
Đầu năm 1985 tôi bất thần được gọi tên tha về cùng một số anh em quân nhân. Ngoài tôi không có thêm tên anh bạn văn nghệ sĩ nào. Các anh mừng cho tôi thì ít, lo lắng chán nản thất vọng cho mình thì nhiều. Viên quản giáo trở nên tử tế với tôi, gã chạy vào phòng nói: “Mừng cho anh nhé. Có thuốc men gì cho tớ xin.”. Tôi cho gã mấy viên thuốc cảm, gã đòi lấy hết nhưng tôi không cho để cho anh em tù nghèo không thăm nuôi.
Trại tù phát cho chúng tôi 50 đồng tiền đi xe, trong khi giá xe về Saigon 150 đồng. Đi bộ từ trại tù ra tới quốc lộ 25 gần 5 cây số. Chúng tôi phải nài nỉ mãi bà chủ xe đò mới “thông cảm” lấy 50 đồng. Xe đầy nhóc người ì ạch chạy như rùa bò trên con đường vòng vèo dốc núi cheo leo đầy bất trắc, nguy hiểm. Tôi và ba anh tù đi cùng chuyến xe không một đồng bạc dính túi, phải nhịn đói nhịn khát hai ngày đêm liền cho tới khi về tới nhà ở Saigon. Một anh có “sáng kiến” đem bộ quần áo tù mới tinh được trại tù phát khi tha, gạ bán cho mấy người trên xe để lấy tiền ăn, nhưng đều bị từ chối vì ai cũng sợ xui khi mặc đồ tù.
Rời nhà tù nhỏ ra nhà tù lớn sống mấy năm thì “phong trào HO” nở rộ và tên tuổi bà Khúc Minh Thơ được anh em tù về hết lời ca ngợi công đức. Bà là ân nhân của tù cải tạo. Tôi vì nghèo, tiền ăn không có lấy đâu ra vàng đút lót hối lộ để được đi HO. Nhưng nghe theo lời các bạn đồng nghiệp cũ may mắn thoát sang Mỹ trước, viết thư về khuyên tôi cứ đến đường Nguyễn Du nộp đơn kèm theo những giấy tờ can thiệp (từ trước tới nay) của các tổ chức như Hội Văn Bút Quốc Tế, Hội Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại, Liên Đoàn Ký Giả Quốc Tế, Hội Nhân Quyền vv… Nhưng tất cả đều vô vọng. Lần nào cũng vậy, hai lần, tôi “ôm” hồ sơ xin xuất cảnh tới Sở Ngoại Vụ đường Nguyễn Du đều được các viên chức hữu quyền (công an CS) trả lời dứt khoát: “Nhà Nước không có chính sách cho anh xuất cảnh. Bọn lính cũ không có súng ống đâu còn đánh được chúng tôi nhưng với bọn anh chỉ một cây viết vẫn có thể chống phá chúng tôi như các anh đã làm trước đây. Anh nên biết bên đó bọn báo chí phản động nhiều như nấm”. Thế là con đường sống bị triệt. Hết hy vọng, hết chờ mong. Tôi đành sống kiếp mạt rệp - một thứ công dân hạng bét - ngay trên quê hương đất nước mình. Nhưng tới cuối năm 1989 tôi được anh bạn nhà văn Hoàng Hải Thủy từ Mỹ gửi thư về báo cho biết tôi và Nhà văn Uyên Thao được bà Khúc Minh Thơ, chủ tịch Hội Bảo Vệ Gia Đình Tù Nhân Chính Trị Việt Nam đã tận tình can thiệp với Bộ Ngoại Giao Mỹ để chúng tôi được sang Mỹ định cư. Chính Hoàng Hải Thủy sốt sắng giới thiệu hai chúng tôi với bà Khúc Minh Thơ và cộng tác mật thiết với bà trong công việc vận động. Con đường hy vọng, con đường sống, lại mở rộng trước mắt tôi.
Buổi tối ngày 18 tháng 5 năm 1999 tôi lên máy bay giã biệt quê hương tăm tối sang Mỹ định cư. Tôi lại được sống lại dưới bầu trời tự do dân chủ tại Miền Nam Việt Nam trước năm 1975. Tuy nhiên nhiều đêm vẫn giật mình thức giấc vì những ám ảnh não nề của những năm tháng tù đầy.[TTH]
Đọc vài truyện ngắn Tràm Cà Mau
Một bữa tôi nhận được e-mail của một người bạn: “Đọc truyện ngắn này đi. Đọc chuyện về nhân vật tên Phàn mà ứa gan” và kèm theo là attachs của truyện ngắn “Bầu bí một giàn”. Một bữa khác tôi lại nhận được một e-mail khác của một bạn khác gửi cho tôi với truyện ngắn “Giọt hạnh phúc trong đáy ly” với hàng chữ kèm theo “Nhân vật này có thiệt trong đời sống không ta? Nếu có tôi phải vái ông Nam này là Phật sống”.
Hai truyện ngắn này đều có chung một tác giả là Tràm Cà Mau. Không hiểu nhà văn viết ra sao mà độc giả quan tâm đến như vậy. Mỗi một e-mail này đã gửi cho cả nhóm gồm mấy chục người. Và, những câu bàn góp của nhỡng người trong nhóm có nhiều câu khá lý thú đã làm cho tôi phải đi kiếm những cuốn sách của tác giả này để đọc. Hơn thế nữa, tôi còn tìm cho mình một vài ý nghĩ vui vui, vừa lạc quan lại vừa yêu đơì để trao đổi với những người bạn cùng tâm ý.
Tôi tìm kiếm được vài chi tiết. Tác giả Tràm Cà Mau đã in ba tác phẩm: “Triết lý củ khoai”, “Rong chơi ngày tháng” và “Hương tóc cố nhân”. Tên tuổi thì không rõ vì hình như tác giả không muốn phổ biến vì một lý do riêng nào đo như sợ ngộ nhận... Theo tôi phỏng đoán có lẽ ông là người miệt vườn Nam Bộ, và cái bút danh Tràm Cà Mau phải liên quan đến địa danh gọi là Đất Mũi này. Lần đầu xuất hiện trên tạp chí Văn Học bút danh bị xếp chữ nhầm lẫn là Trần Cà Mau và sau đó được cải chính. Đọc truyện của ông, có khi như là thiên tự truyện, có khi như là chuyện của những người thân thuộc quanh ông và hầu như ở bất cứ truyện nào cũng chuyên chở đời sống. Quen và lạ, những tâm sự ấy, những suy nghĩ ấy. Những người đã cùng trải qua những đoạn đời có thể là tương tự nhau có lẽ dễ chia sẻ những điều chung mang. Bởi vậy, các người bạn của tôi, có người đã về hưu, có người còn đi làm nhưng ở trong tuổi quá sáu mươi, thường đọc Tràm Cà Mau với nhiều cảm khái. Và trong câu chuyện của những người già, trên điện thoại hay e-mail, hoặc trong các buổi họp mặt, những đề tài ấy nhiều khi đầy những thích thú.. Đọc chuyện của người để chạnh nghĩ đến mình, để thấy đời sống nhẹ nhàng qua đi và hạnh phúc nhiều khi chỉ là những đơn sơ dễ tìm kiếm trong cuộc sống. Riêng tôi, đọc truyện Tràm Cà Mau, tôi khoái cái dí dỏm nhẹ nhàng, cái cười mỉm trong cuộc sống và cả những nỗi đau có khi được che dấu bằng niềm vui.
Có một lần tôi gặp tác giả “Triết lý củ khoai” trong một bữa ăn tối với vài người bạn. Anh có vóc dáng của một thư sinh, nói ít, cười nhiều. Ngồi cạnh anh, qua vài câu chuyện, tôi biết thêm vài điều. Nghe anh nói giọng miền Trung, tôi biết anh không phải gốc Miệt Vườn như mình nghĩ nên hỏi “Tại sao anh lại chọn bút danh Tràm Cà Mau?” thì anh cười thay cho câu trả lời. Anh chỉ nói mình viết chơi chơi thôi chứ không có ý trở thành tác giả này, nhà văn nọ. Cho nên, anh thường hay lảng tránh chuyện văn chương mà lại hay nói chuyện đời thường với một vẻ thâm trầm ý nhị riêng. Tôi có cảm giác nói chuyện với một người bên ngoài có vẻ kín đáo nhưng ở nội tâm bên trong hình như dấu kín những điều chỉ có thể thố lộ với người hiểu mình và thông cảm với mình. Dù rằng, tác giả đã viết: “Từ lâu, tôi vốn sợ vướng phải nợ văn chương mà khổ thân, vì tự biết mình chưa đủ khả năng để làm chuyện văn chương đứng đắn, nhưng viết mà chơi cho vui thì tôi có thể làm được..nhưng in được ba tác phẩm có phải là để xác định đã …vướng nợ văn chương không?”
Có anh bạn nói bút hiệu Tràm Cà Mau đã hơi kỳ kỳ rồi mà nhan đề tập truyện “Triết lý củ khoai” lại kỳ khôi hơn. Cái gì mà củ khoai lại thành một triết lý? Tác giả giải thích:
“Tôi cứ yên chí hạnh phúc không có thật trên đời này và không tội gì uổng công tìm kiếm. Dù sách vở, thơ văn,… có nói nhiều đến hạnh phúc, tôi e rằng đó là chuyện mơ mộng ao ước hão huyền, chuyện bánh vẽ của những người chuyên làm thơ văn. Nhưng khi lớn lên được đọc kinh Phật, kinh Thánh và nhiều sách triết lý Âu Á, như Khổng, Lão, Chu.. và luôn cả kinh Koran và kinh đạo Bahai, thì tôi tìm ra cho tôi được một triết lý đơn sơ mộc mạc, là cái món hổ lốn vắt ra tự tinh túy của các triết lý khác. Tôi tạm gọi là: triết lý củ khoai... Vì nó đơn sơ như củ khoai, rẻ tiền, mộc mạc và dễ tìm thấy như củ khoai trong đời này. Triết lý được đơm gọn trong một câu ngắn ngủi: “Nếu chỉ có một củ khoai thôi thì hãy nướng nó cho thật thơm mà đớp”. Ý nghĩa của câu đó cũ mèm hình như ai cũng biết và có nhiều câu nói tương tự. Cái triết lý đơn giản này giúp tôi thấy được rằng hạnh phúc là cái rất cụ thể, rất gần gũi, bất cứ ai và bất cứ lúc nào cũng có thể tìm được hạnh phúc rất dễ dàng. Ai cho rằng hạnh phúc là cái xa vời thì vì họ chưa nắm hết phần tinh túy của các triết lý khác hoặc chưa từng nghe một phần của triết lý củ khoai. Nhiều sách vở khác cũng có nói đến nhưng người đọc vô tình hoặc cố ý làm ngơ hoặc biết rất rõ nhưng chẳng bao giờ thực hành…”
Cái triết lý củ khoai nhìn như đơn sơ ấy nhưng áp dụng được chẳng phải là sự dễ dàng. Ai mà chẳng biết cứ an nhiên tự tại dù trong bất cứ cảnh huống nào là biện pháp tốt nhất để chúng ta bình tĩnh và sáng suốt để tìm phương cách giải quyết khó khăn. Ai mà chẳng biết nếu vượt qua được những trở ngại đời sống bằng tâm bình lặng thanh thản thì đời sống sẽ tươi đẹp biết bao nhiêu. Có khi lực bất tòng tâm, muốn mà không đạt được. Nhưng, dù sao khi đọc truyện Tràm Cà Mau, người đọc cũng tìm được những ý nhị của cuộc sống và những nặng nề của kiếp nhân sinh cũng nhẹ gánh đi…
Có người đã giải thích về bút danh Tràm Cà Mau. Anh bảo cứ đọc truyện ngắn “Đoạn Đời lênh Đênh” là biết ngay. Nhân vật xưng tôi trong truyện hình như phản ánh rõ ràng căn cước của tác giả. Đương sự là một kỹ sư công chánh, bị đi tù vì can tội ngụy quyền và khi được thả tuy được làm công việc chuyên môn cũ nhưng bị quản chế của địa phương. Truyện ngắn này kể lại chuyến đi “công tác” về những vùng kinh tế mới Cái Sắn, Gò Quao, Củ Chi, Năm Căn, Đồng Tháp, Cà Mau,..và có lẽ bút danh Tràm Cà Mau có xuất xứ từ đây. Câu chuyện kể lại một thời kỳ mạt vận của xã hội miền Nam sau ngày Cộng sản chiếm được đất nước. Những câu chuyện kể, của những chủ nhân mới và những nạn nhân mới của một thời thế lạc hậu tưởng như lúc con người còn ăn lông ở lỗ, khi mà những loại người dốt nát cầm quyền và những người trí thức không còn phản ứng nào hơn là bó tay hay khôi hài hoặc lố bịch hóa những hiện tượng đời sống đầy tiêu cực. Tác giả viết, với phong cách nhẹ nhàng tuy chua cay nhưng không hề có một chút nào cường điệu. Đời sống được mô tả, thành thật, chuyên chở được nỗi niềm của những người bị lưu lạc đầy đọa giữa chính đất nước của mình. Đoạn kết của truyện ngắn là một bài thơ:
“Tôi rút ống sáo cài trên phên lá xuống, thổi bài nhạc cũ mà ngày xưa cả Mạnh, Dung và tôi thường ưa thích. Tiếng sáo vút lên trong không gian giữa rừng khuya tịch mịch. Tôi dồn cảm xúc, dồn hơi thở vào ống sáo. Mạnh cầm cây đũa bếp gõ xuống thanh gỗ và ngâm bài thơ ‘Đêm ngược dòng sông Trẹm’ tiếng ngâm vang vọng trong căn chòi lá
.. Tiếng ngâm vừa dứt, thì tiếng sáo cũng hạ xuống ngưng theo. Mạnh và tôi, nước mắt đầm đìa trên má. Kéo vạt áo lên lau mắt chúng tôi khóc cho chính mình, khóc cho bạn bè, khóc cho gia đình và khóc cho cả quê hương đang chìm đắm trong bóng đen không thấy ánh tương lai.
Một đêm buồn trong rừng tràm, bên bờ sông Trẹm, sau này còn vang vọng mãi trong lòng tôi…”
Những câu thơ này có phải là tạo cảm hứng cho bút danh Tràm Cà Mau:
“Rừng tịch mịch vọng oan hồn khuya vắng
Đời tang thương mai mốt biết về đâu?
Mái tóc sương rối bời trầm mưa nắng
Đường tương lai bít lối. Nẻo cơ cầu
Sông vẫn chảy trong ta ngàn cay đắng
Một đời người tăm tối mãi canh thâu
Nước như máu phù sa về đặc quánh
Quyện qua tim thao thức bãi Cà Mau
Dòng sông Trẹm trời khuya mang mang lạnh
Cất tiếng hò não nuột vọng rừng sâu.”
Có lẽ, quê quán sinh trưởng ở miền Trung khô cằn sỏi đá, nhưng ở buổi đất nước nhiễu nhương thế thời suy bại, thì tác giả đã thấm đậm tâm tình của một người dân Việt lưu lạc đến tận cuối vùng lãnh thổ để cất lên những câu thơ phản ánh một tâm sự ngậm ngùi?
Với quá khứ, Tràm Cà Mau thống thiết. Nhưng ở hiện tại và tương lai thì trái lại. Lạc quan và tích cực. Đọc “Giọt hạnh phúc trong đáy ly” mà một anh bạn đã viết về nhân vật ông già Nam trong e-mail cho tôi và các bạn cùng nhóm: “Nhân vật này có thực trong đời sống không ta? Nếu có thực tôi phải vái ông già này là Phật sống.”
Hạnh phúc là gì? Hình như tác giả đã mô tả thật rõ nét. Một người tàn tật, sống bằng tiền trợ cấp, nhưng lúc nào cũng vui vẻ và tìm được trong cuộc sống những niềm lạc quan yêu đời. Chẳng những thế, ông còn mang những ý hướng sống tích cực đến những người chung quanh như một người ban phát nụ cười. Nhìn đời sống từ những góc cạnh tươi sáng, biết vừa lòng với cái mình có, và quên đi những nhọc nhằn để chỉ còn thấy riêng những hạnh phúc, những mẫu người như thế phỉa là hiếm có trong nhịp sống dồn dập ở xứ sở này.
Ông già Nam khi trả lời một người đã phê bình ông lạc quan quá đáng, có phải vì ông không phải chịu những rắc rối, khó khăn, muộn phiền, khổ đau của cuộc đời đang đè nặng nên mới lạc quan như vậy.
“…ai mà không có những khó khăn rắc rối âu lo hàng ngày? Ai mà không có một niềm đau âm ỉ trong lòng. Nhưng bên cạnh những bất hạnh đó còn có nhiều phước hạnh khác. Cứ nhìn vào bất hạnh mà không nhìn vào phước hạnh nên mới khổ. Ông chưa nghĩ kỹ thôi, chứ tàn tật như tôi, so với nhiều người khác thì còn được may mắn lắm lắm. Có những người không còn thấy ánh sáng ước mơ một phút mở mắt ra nhìn được người thân thương, có người nằm bẹp dí trên giường không di chuyển được họ thèm một phút trên đường phố như chúng ta, có những người đang đói khát, tù tội, họ thèm được một phần ngàn cái hoàn cảnh hiện tại của chúng ta hôm nay. Mình có, có hết mà không biết hân hoan, không biết đón nhận và cảm ơn trời đất, thì có tội, và tội lớn lắm. Một ngày kia mất đi những thứ này, sẽ tiếc quay quắt và ân hận sao ngày xưa mình có mà không biết sung sướng…
Mỗi người một hoàn cảnh, nhưng tựu chung, nếu biết đủ là đủ, biết vừa lòng với hiện tại của mình, đừng thấp cao so sánh với người, thì có lẽ đời sống vui tươi hơn và có ý nghĩa hơn. Cái bài học ấy ai cũng biết nhưng vẫn chưa hiểu được những điều đơn sơ ấy. Tôi tự nghĩ về chính tôi, có lúc vẫn chưa hiểu biết được hết những giọt đáy của ly tận cùng hạnh phúc là gì. Có lúc, vẫn phải chạy theo cuộc sống hụt hơi. Có lúc, vẫn phải trôi theo dòng đời mà mình thấy có lúc như bơi trong không khí…”
Một bạn già khác, hồi trước cùng chung một khóa Không quân với tôi thì lại có suy nghĩ khác khi đọc truyện ngắn “Bầu Bí Một Giàn”. Anh viết “Đọc truyện ngắn này đi. Đọc chuyện về nhân vật tên Phàn mà ứa gan…”
Nhân vật tên Phàn này cư xử thế nào, nguồn gốc ra sao mà làm ông bạn tôi, một người đọc của tác giả Tràm Cà Mau phê phán đến như vậy?
Anh ta là một người tị nạn nhưng đi từ miền Bắc, với tất cả những tác phong lạc hậu của những người đã quen với những tập tục chậm tiến đến mức quái lạ như luôn luôn nhìn người khác bằng con mắt nghi ngờ, lười biếng, không bao giờ biết nói chữ cám ơn khi người khác giúp đỡ.
Đi tị nạn nhưng cũng vẫn bốc phét như lúc còn sống ở trong nước:
“Khi đã ngà ngà, anh Phàn hăng say kể về cuộc chiến anh hùng chống Mỹ cứu nước của nhân dân ta. Hạ máy bay Con Ma, bắt giặc lái. Máy bay của ta núp trong mây chờ máy bay Mỹ đến thì bắn hạ rụng như sung chín. Anh kể công ơn bác, đảng, văn minh tiên tiến. Những chuyện này tôi đã nghe nhiều lần khi còn ở bên nhà. Vợ anh Hy giận, nói lớn, hỏi sao không ở lại với bác đảng anh hùng của anh mà lại đi qua Mỹ làm chi. Anh trả lời là sống với bọn đó không được, sống không nổi, đời sống thua con chó, khoai sắn còn không có mà ăn chứ đừng nói đến cơm..”
Anh chàng tên Phàn quả là một người ù lỳ, lười biếng, không hiểu biết, tham lam, bướng bỉnh,.. và cả một lô những khuyết điểm khác. Không cho con đi học, nghi ngờ bị ăn chặn tiền trợ cấp, ăn nói vô ơn với ân nhân, tác giả kể lại thật linh động:
“Mỗi buổi sáng tinh sương anh Hy đến chở anh Phàn đi làm, buổi chiều đưa về tận nhà. Có những buổi chiều, khi tan sở, xe anh Hy là một đống tuyết khổng lồ, anh phải vất vả đào tuyết moi xe ra. Trong khi anh Hy quần thảo với đống tuyết với màng nước đá đông cứng trên kiếng xe thì anh Phàn đứng hút thuốc lạnh lùng nhìn. Anh Hy bất bình nhưng không nói. Một lần mệt quá anh Hy không nín được quay qua hỏi anh Phàn:
- Anh không giúp tôi một tay dọn tuyết cho mau mà ra về?
- Xe anh chứ có phải xe tôi đâu!
- Nhưng anh có đi trên xe này không?
- Anh lái xe mà, đâu phải việc của tôi..
.. Có lần anh Phàn ngần ngừ hỏi: ‘Tôi hỏi thật, anh đừng dấu nhé. Nhà thờ trả cho anh mỗi tháng bao nhiêu để anh đưa đón tôi đi làm?’
Anh Hy nghe mà buồn cười, hỏi lại ‘Anh hỏi làm chi vậy’
-Hỏi cho biết bao nhiêu, nếu số tiền đó khá thì tôi xin lãnh tiền và kiếm chiếc xe đạp đi làm cũng được.
-Không có xu nào cả. Tôi chở anh miễn phí vì anh là đồng hương và vì tôi cũng đã qua thời kỳ mới đến định cư như anh. Đáng ra anh phải chia tiền xăng, tiền hao mòn xe với tôi mới phải lẽ.
-Tôi không tin!
-Không tin thì anh thử hỏi mấy ông bà bảo trợ xem.
Anh Phàn cười mũi: ‘Có hỏi mấy ông bà Mỹ thì vợ anh hay anh phiên dịch. Anh chị muốn nói chi mà không được. Thà đừng hỏi…’
Anh Hy buồn lắm nhưng không nỡ nói nặng lời, anh chỉ thở dài: “Năm ba năm nữa, nếu nhớ lại chuyện này, anh sẽ biết rõ sự thực..”
Chuyện người tị nạn như một trường thiên tiểu thuyết đầy đủ hỉ nộ ái ố. Đọc lại những trang sách, trong những điều diễn tả, có đầy đủ những vị chua đắng, có vui buồn trộn lẫn. Một điều lạ lùng, chúng ta sẽ cảm thấy cảm thông hơn với những người không biết điều như thế hơn là chán ghét họ.
Tôi nghĩ thế nào về truyện ngắn Tràm Cà Mau? Trong thâm tâm, tôi nghĩ mình đã có người đồng điệu chia sẻ một chút tâm tư đời sống. Đọc “Đoạn Đời Lênh Đênh” tôi nghĩ lại những thời gian đã qua của mình trước khi vượt biên, cũng lang thang từ cuộc đất lầy sình này đến vùng kinh tế mới nọ, cũng than thở vì đất trời cao rộng mà mình không có chỗ dung thân. Đọc bài thơ “Đêm ngược dòng sông Trẹm” của tác giả lại nhớ đến bài thơ của mình viết khi đang trên con đò dọc theo kinh đi vào vùng đất cằn khô ven Đồng Tháp Mười. Cũng như đọc những truyện khác, để thấy được một cuộc sống mở ra nhiều tâm tư, nhiều nỗi niềm mà bất cứ một người xa xứ nào cũng có, và cảm thấy. Dù Tràm Cà Mau không cố tình làm văn chương, nhưng những truyện ngắn của ông không phải là những chứng tích của một thời thế Việt Nam sao? [NMT]
Nicole Kidman sẽ đóng vai Công nương Monaco?
Nữ minh tinh Nicole Kidman đang đàm phán để vào vai Grace Kelly - một trong những vai diễn “hấp dẫn nhất” của Hollywood, theo tạp chí văn hóa Variety.
Công nương Grace của Monaco đã được Hollywood chuyển thể thành kịch bản từ một tác phẩm năm 2011 và sẵn sàng cho sản xuất và ra mắt bất cứ năm nào tới đây.
Câu chuyện khắc họa cuộc đời của công nương xứ Monaco, người xuất thân là một cô đào điện ảnh thành công người Mỹ.
Chuyện phim miêu tả công nương đã nỗ lực cứu vãn Monaco nơi mà bà làm dâu, trong những năm đầu thập niên 1960.
Bộ phim sẽ được Olivier Dahan, người nổi danh với phim La Vie en Rose (Cuộc đời màu hồng), làm đạo diễn.
Theo Variety, đang có sự cạnh tranh khốc liệt giữa các nữ diễn viên hàng đầu của Hollywood để vào vai công nương Grace Kelly huyền thoại.
Trở lại với nhân vật gốc, Kelly Grace đã từ bỏ nghề nghiệp diễn viên điện ảnh đang rất thành công của bà để kết hôn với Hoàng thân Rainier của Monaco vào năm 1956, ở tuổi 26.
Bộ phim do Arash Amel viết kịch bản lấy bối cảnh thời gian giữa tháng 12 năm 1961 và tháng 11 năm 1962 khi bà mẹ có hai con "được kêu gọi hãy cứu Monaco thoát khỏi tình huống căng thẳng đang leo thang khi Monaco cố gắng duy trì một thiên đường thuế".
Kidman từng đoạt giải Oscar cho nữ diễn viên xuất sắc nhất vào năm 2003 với vai Virginia Woolf trong phim The Hours, và được đề cử lần thứ ba vào năm 2011 với phim Rabbit Hole.
Nữ diễn viên 44 tuổi này cũng sắp xuất hiện tới đây trong phim kinh dị The Paperboy (Đứa trẻ bán báo) cùng với các ngôi sao Zac Efron và John Cusack.-Nguồn BBC



