Error
  • JUser: :_load: Unable to load user with ID: 64

Mười Năm Sau Khi Trung Quốc Vào WTO

Sunday, 05 February 2012 01:30 Published in Phân tích

Lợi và Hại của việc hội nhập

 

Ngày 11 Tháng 12 năm 2001, Trung Quốc trở thành hội viên thứ 143 của Tổ chức Thương mại Thế giới WTO. Sau đó, ngày 27 Tháng 12, Tổng thống George W. Bush ban hành văn kiện công nhận quy chế tối huệ quốc thường trực cho Trung Quốc, sẽ áp dụng từ đầu năm 2002.  Mười năm sau biến cố này, tình hình biến chuyển ra sao, lợi hại thế nào. Mà ai có lợi, ai bị thiệt hại?...

 

 


 

Ngay từ đầu, năm 1947, Trung Hoa Dân Quốc đã là thành viên sáng lập Thỏa ước GATT (General Agreement on Tariffs and Trade) tiền thân của Tổ chức Thương mại Thế giới WTO. Sau khi bị đuổi ra khỏi Hoa lục năm 1949, Trung Hoa Dân Quốc (Republic of China) rút khỏi tổ chức này từ Tháng Ba năm 1950. Thế vào chỗ đó, Cộng hoà Nhân dân Trung Quốc chỉ chính thức nộp đơn gia nhập GATT vào Tháng Năm, năm 1987. Điều ấy có nghĩa là xứ này phải cam kết tôn trọng những quy định về thuế biểu và ngoại thương với các thành viên của WTO.

 

Nhưng thật ra không dễ vì Trung Quốc mới chỉ cải cách kinh tế từ đầu năm 1979, rồi lại bị khủng hoảng và gây ra vụ tàn sát Thiên an môn năm 1989.

 

Khi GATT kết thúc và WTO được thành lập vào đầu năm 1995, các thành viên cũ của GATT trở thành hội viên WTO, còn xứ nào muốn xin gia nhập WTO thì phải thương thuyết và thoả mãn yêu cầu của từng hội viên. Trung Quốc khởi sự lại từ đó, mất thêm sáu năm, qua 18 kỳ thương thuyết, mới hoàn tất thủ tục. Việc Hoa Kỳ công nhận quy chế xưa kia gọi là tối huệ quốc về sau gọi là Mậu dịch Bình thường và Thường trực (Permanent Normal Trade Relations – PNTR) là một điều kiện then chốt để kinh tế Trung Quốc gia nhập WTO và hội nhập vào luồng giao dịch toàn cầu.

 

Mười năm sau, là ngày nay, Trung Quốc đạt những thành quả kinh tế vượt bậc, chiếm hạng nhì về sản lượng của thế giới và có khối dự trữ ngoại tệ tương đương hơn 3.200 tỷ Mỹ kim. Riêng với Hoa Kỳ, Trung Quốc đạt xuất siêu rất lớn - hơn phân nửa tổng số nhập siêu của Mỹ - nhưng thường xuyên có mâu thuẫn nhiều mặt với quốc gia này.

 

Tuy nhiên, vấn đề không chỉ là quan hệ Mỹ-Hoa về an ninh hay quyền lợi của đôi bên.

 

Trong nội bộ, việc giải phóng kinh tế nhờ giao thương với thế giới đã đi hết sự vận hành tích cực và Trung Quốc phải cải cách hơn nữa, như Hội nghị Ban chấp hành Kỳ V của Khóa 17 quyết định từ Tháng 10 năm ngoái. Nhưng, việc cải cách được đảng đề ra cho Kế hoạch Năm năm thứ 12 (2011-2016) lại tiến hành vào thời điểm bất trắc vì nguy cơ động loạn bên trong và môi trường bất lợi của kinh tế thế giới ở bên ngoài: trong năm 2012, kinh tế Âu châu có thể bị suy thoái (depression), Hoa Kỳ có thể bị suy trầm (recession) và kinh tế Nhật Bản chưa ra khỏi 20 năm hoạn nạn.

Thời điểm còn bất trắc hơn nữa vì cuối năm 2012, Trung Quốc lại có Đại hội khoá 18 để đề cử một tầng lớp lãnh đạo mới và những vận động nội bộ cho Đại hội 18 có thể trì hoãn hoặc làm lệch lạc những quyết định sinh tử của xứ này.

 

Việc đánh giá Trung Quốc 10 năm sau khi gia nhập WTO cần được đặt trong bối cảnh đó.

 

 

***

 

 

Trở lại chuyện xưa, trong gần 15 năm thảo luận việc gia nhập WTO – thực tế từ 1987 đến cuối năm 2001 – Bắc Kinh chọn chiến lược thương thuyết là viện dẫn hoàn cảnh "đang phát triển" (developing) của kinh tế Trung Quốc để được một số đặc miễn mà các thành viên khác không có. Bắc Kinh cam kết sẽ giải toả dần việc quản lý kinh tế theo những quy định của WTO sau khi tiến hành cải cách và kinh tế ra khỏi hoàn cảnh "đang phát triển" - của một nước chậm tiến. Trong thực tế, Bắc Kinh tiến hành cải cách có chọn lọc – đổi mới nửa vời – để kiếm lợi nhờ tiếp cận thị trường toàn cầu mà vẫn duy trì được quyền kiểm soát kinh tế và bảo vệ đặc quyền của mình.

 

Vì vậy, trong 10 năm gia nhập WTO, xứ này thường xuyên bị các thành viên khác phê phán, kiện tụng và thậm chí trừng phạt vì hàng loạt hồ sơ.

 

Trước hết, Bắc Kinh có cải thiện - mà chưa đủ - nền tảng luật lệ và quản lý về ngoại thương, kể cả quan thuế biểu, để thỏa mãn những đòi hỏi của WTO. Đây là hiện tượng "ly nước đã đầy một nửa" như Trung Quốc viện dẫn. Nhưng "còn vơi một nửa", như các thành viên khác than phiền, trong số này không chỉ có Hoa Kỳ.

 

Ngoài lãnh vực đó, Bắc Kinh vẫn chưa có thay đổi tương xứng trong nhiều hồ sơ khác:

 

Đó là việc bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ - nôm na là vẫn ăn cắp tác quyền của thiên hạ để có bước nhảy vọt về kỹ thuật và công nghệ. Đó là chủ động duy trì chính sách công nghiệp - để can thiệp và chọn lựa những khu vực được ưu đãi và bảo vệ khỏi sức cạnh tranh của quốc tế. Đó là bảo vệ khu vực doanh nghiệp nhà nước, được Bắc Kinh coi là chủ lực về kinh tế để thi hành chánh sách công nghiệp. Là áp dụng chế độ trợ cấp doanh nghiệp của mình và kỳ thị doanh nghiệp nước ngoài về thuế suất để giữ một sân chơi thiếu bình đẳng. Là duy trì những giới hạn về thương mại và quyền phân phối trong các khu vực canh nông hay dịch vụ, như ngân hàng, bảo hiểm, xây dựng, giải trí. Quan trọng không kém là những luật lệ về bí mật quốc gia khiến Trung Quốc không có một hệ thống thông tin kinh tế và kế toán kinh doanh minh bạch và khả tín....

 

Phần mình, Hoa Kỳ không thể không biết về chiến lược và ẩn ý của Bắc Kinh.

 

Khi thương thuyết hồ sơ WTO với Bắc Kinh, Chính quyền Bill Clinton (1993-2000) tin là nhờ mối lợi kinh tế và sức ép của cơ chế WTO, Trung Quốc sẽ thay đổi để trở thành một quốc gia cởi mở, văn minh và biết điều hơn. Đó là chiến lược tạm gọi là "kết ước" – engagement. Khi ấy, Quốc hội Mỹ cũng lập ra cơ chế giám sát mối quan hệ giữa hai quốc gia, về cả an ninh lẫn kinh tế, để khuyến cáo biện pháp ứng phó thích hợp.

 

Sau khi Trung Quốc được vào WTO, chiến lược "kết ước" được Chính quyền George W. Bush (2001-2008) theo đuổi, với hy vọng là Trung Quốc trở thành một đối tác có trách nhiệm để cùng góp phần giải quyết các hồ sơ nóng của thế giới. Nhìn từ phía Mỹ, rủi ro của chiến lược này – mà Bắc Kinh gọi là "diễn biến hòa bình" – Trung Quốc có thể tiến tới chế độ tư bản, nhưng lại là "chủ nghĩa tư bản nhà nước", với màu sắc Trung Hoa. Tuy nhiên, mối lợi kinh tế nhờ khuôn khổ WTO có thể giảm thiểu rủi ro ấy, nếu Hoa Kỳ thường xuyên theo dõi và gây áp lực.

 

Chính quyền Barack Obama cũng không làm khác và áp dụng biện pháp vừa dọa vừa dụ nhằm thúc đẩy Bắc Kinh cải cách mạnh hơn ở bên trong và hợp tác cùng Hoa Kỳ ở bên ngoài để giải quyết nhiều hồ sơ lớn của thế giới.

 

Kết quả ngày nay là một sự thất vọng.

 

 

***

 

 

Nhờ sức bật của ngoại thương và đầu tư, Trung Quốc trở thành một thế lực kinh tế mới, trục lợi bất chánh trong luồng trao đổi với Hoa Kỳ và còn thách đố nước Mỹ trên nhiều diễn đàn và khu vực quốc tế. Trong khi đó, Hoa Kỳ cần đẩy mạnh xuất cảng – tăng gấp đôi trong năm năm, theo chủ trương của Chính quyền Obama – để giảm bớt áp lực thất nghiệp nhưng lại gặp hàng rào bảo vệ của Bắc Kinh.

 

Tháng 11 vừa qua, cơ chế giám sát quan hệ Mỹ-Hoa của Quốc hội Mỹ (US-China Economic and Security Review Commission, gọi tắt là Hội đồng USCC) công bố bản lượng định hàng năm cho năm 2011, với đề nghị là Hội đồng An ninh Quốc gia phải rà soát lại đối sách với Trung Quốc.

 

Có tính cách lưỡng đảng, Hội đồng USCC đánh giá là 10 năm sau khi gia nhập WTO, chẳng những Bắc Kinh chưa thay đổi như đã cam kết mà còn tiện thiện đặt ra luật chơi riêng để trục lợi bất chính và gây thiệt hại cho Hoa Kỳ.

 

Bên trong, hệ thống tài chính, ngân hàng và doanh nghiệp của Nhà nước Trung Quốc còn gây thêm bất quân bình về ngoại thương, ngộ dụng tài nguyên (sung dụng tài nguyên không đúng với quy luật thị trường) và thổi lên bong bóng đầu cơ và lạm phát. Bên ngoài, với thế lực kinh tế mới, Bắc Kinh ngày càng cương cường trên sân khấu quốc tế và khai thác ưu thế hải quân để đòi chủ quyền quá đáng - và thực tế có thể vi phạm công pháp quốc tế trong vùng biển Đông Nam Á.

 

Hội đồng USCC khuyến cáo Hội đồng An ninh Quốc gia thẩm xét lại toàn bộ quan hệ giữa hai nước để đề nghị Hành pháp thay đổi đối sách với Trung Quốc.

 

 

***

 

 

Năm xưa, Winston Churchill phê phán chánh sách nhượng bộ của Neville Chamberlain khi hy sinh Tiệp Khắc và ký hòa ước với Đức quốc xã: "chịu nhục để tránh chiến tranh, kết cuộc thì vừa lãnh chiến tranh vừa bị nhục". Quan hệ ngày nay của Hoa Kỳ với Trung Quốc không đến nỗi tệ như vậy.

 

Nhưng có thể tệ hơn vậy.

 

Tự thân thì Trung Quốc có thấy ra nhu cầu cải cách. Lãnh đạo thuộc thế hệ thứ tư, như Hồ Cẩm Đào và Ôn Gia Bảo, đều biết là phải cải tổ kinh tế và cả chính trị - tất nhiên không theo quy tắc dân chủ như Tây phương. Lý do là để tránh động loạn xã hội và khủng hoảng kinh tế có thể dội ngược lên thượng tầng chính trị. Dù chưa về hưu để có thể nói thật như nhiều nhân vật khác, họ đã phát biểu rằng kinh tế Trung Quốc không quân bình, không công bằng, không ổn định và không bền vững. Việc cải cách được đề ra trong mục tiêu cứu vãn đó.

 

Nhưng dù được đảng quyết định từ Tháng 10 năm ngoái và Quốc hội ban hành từ Tháng Ba năm nay, việc cải cách vẫn gặp trở lực mạnh từ các nhóm quyền lợi trong khu vực nhà nước và trên thượng tầng đảng. Cuộc vận động bên trong cho Đại hội đảng năm tới để thay thế 70% số Trung ương Ủy viên và bảy trong chín Ủy viên của Thường vụ Bộ Chính trị - cơ chế quyền lực cao nhất nước của Bộ Chính trị gồm 24 ủy viên - càng cản trở và trì hoãn việc cải cách này.

 

Và càng khiến Trung Quốc dễ bị khủng hoảng nếu kinh tế hạ cánh nặng nề trong tương lai trước mặt vì những nhược điểm nội tại. Đó là lưỡi dao bên trong.

 

Ở bên ngoài, áp lực cải cách từ phía Hoa Kỳ càng dễ gây tác dụng ngược trong thành phần đang muốn huy động tinh thần độc lập, chủ nghĩa mị dân và bài ngoại để chiếm ưu thế lãnh đạo. Nghĩa là càng khiến Bắc Kinh khó xoay trở hơn. Khi biến động bùng nổ, với xác suất ngày càng cao, Hoa Kỳ sẽ đối phó thế nào?

 

Kết cuộc thì WTO là con dao hai lưỡi. Nhưng lưỡi nào sắc hơn và có thể làm Thiên triều đổ ruột? Qua năm tới chúng ta sẽ tìm hiểu về chuyện đó.[NXN]

Tổ Chức và Tổ Trác

Saturday, 04 February 2012 16:28 Published in Phân tích

Nghịch lý về Bầu cử tại Nga và tại Ai Cập

 

 

Thế giới vừa  có hai cuộc bầu cử đáng chú ý ở những nguyên nhân và hậu quả mà... ít ai để ý. 

 

Về thời gian thì trước hết là cuộc bầu cử hôm Thứ Hai 28 Tháng 11, đợt đầu tiên trong hàng loạt bầu cử từ nay đến năm tới, có thể đến năm kia, để dân Ai Cập (Egypt) chọn lựa lãnh đạo. Đây là sinh hoạt bầu bán đầu tiên của xứ này sau khi Chính quyền của Tổng thống Hosni Mubarak bị lật đổ trong cái trớn của "Mùa Xuân Á Rập" vào đầu năm nay. Kế tiếp là cuộc bầu cử Hạ viện Nga, viện Duma, vào mùng bốn Tháng 12, cũng là đợt đầu trước cuộc bầu cử tổng thống vào Tháng Ba năm tới để chọn người sẽ lãnh đạo Liên bang Nga.

 

 

***

 

 

Xin nói về bầu cử tại Nga trước....

 

Kết quả được truyền thông Tây phương loan tải mà mau mắn bình luận, là đảng Thống nhất Nga (United Russia) mất 77 ghế và điều ấy cho thấy uy tín sa sút của người lãnh đạo đảng, là Thủ tướng Vladimir Putin. Đồng thời, tuần qua Ngoại trưởng Hoa Kỳ là Hillary Clinton cũng mạnh dạn đả kích kết quả bầu cử này là đáng nghi ngờ.

 

Đã hết rồi, cái tinh thần hữu nghị khi Chính quyền Barack Obama muốn cải thiện quan hệ với Moscow theo chủ trương bật lại cái nút – reset the button – được thông báo vào đầu nhiệm kỳ của ông Obama! Chuyện gì vừa mới xảy ra?

 

Một hài kịch về sự ngờ nghệch của truyền thông Tây phương và của nhiều nhà bình luận!

 

Putin sẽ ra tái tranh cử năm 2012, hầu như chắc chắn lại trở về làm Tổng thống Nga trong sáu năm tới, theo quy định mới của Hiến pháp Nga. Đảng Thống nhất Nga của ông bị mất ghế trong Quốc hội, nhưng vẫn chiếm đa số là gần 53% là có nhiều dân biểu hơn hẳn ngần ấy đảng gọi là đối lập. Được trao lại cho đương kim Tổng thống là Dmitri Medvedev, đảng sẽ tiếp tục lãnh đạo Quốc hội, dưới sự chỉ huy của người sẽ làm Thủ tướng là... Medvedev.

 

Sau bốn năm đổi ghế cho Medvedev, Putin lại trở về làm Tổng thống Nga và là lãnh tụ có thực quyền nhất.

 

Trong viện Duma có ba chính đảng được coi là mạnh sau đảng Thống nhất Nga. Lần lượt theo kết quả kiểm phiếu là đảng Cộng sản (hơn 20%), đảng nước Nga Công bằng (Just Russia) theo xu hướng trung tả được hơn 14% và đảng Tự do Dân chủ theo xu hướng dân tộc được hơn 12%. Họ sẽ bỏ phiếu ra sao trong viện Duma, đứng ở vị trí nào dưới sự lãnh đạo của Tổng thống Putin và Thủ tướng Medvedev kể từ Tháng Năm năm 2012?

 

Đảng Cộng sản là tàn dư của chế độ Xô viết cũ nhưng vẫn có tổ chức, cán bộ và khả năng huy động đáng kể trong thành phần quần chúng luyến tiếc thời vàng son của siêu cường Liên Xô. Cũng vì vậy, đảng này đã và sẽ hợp tác chặt chẽ với người đang khôi phục lại uy tín và thế lực của Liên bang Nga, là Putin.

 

Chính đảng có vẻ dân chủ nhất theo khẩu vị Tây phương là đảng Nga Công bằng, một ấn bản Nga của các đảng Xã hội hay Lao động Âu châu, thì đã có chủ trương hợp tác với Putin cho sự cường thịnh của nước Nga. Dưới sự lãnh đạo của Nicolai Levichev, đảng này sẽ không thay đổi lập trường và là đối tác đáng tin của Phủ Tống thống, trong điện Kremlin.

 

Đảng Tự do Dân chủ có xu hướng phát huy sức mạnh an ninh để bảo vệ quyền lợi của Nga, không khác với chủ trương của Putin. Lãnh tụ đảng là Vladimir Zhirinovsky, có một điểm đồng dạng với Putin: nhân viên cũ của "Sở Bảo vệ Chính trị", cơ quan KGB!

 

Nghĩa là sau bầu cử, bốn chính đảng mạnh nhất của nước Nga đều tiến hành kế hoạch phát huy sức mạnh của Liên bang Nga, dưới sự chỉ đạo của Vladimir Putin.

 

Sau khi tái đắc cử năm tới, nếu Putin lại... hy sinh vì nước mà làm thêm một nhiệm nữa thì sẽ lãnh đạo nước Nga cho đến năm... 2024! Nói cho gọn: Vladimir Putin có thể là lãnh tụ trong tổng cộng 24 năm, còn hơn Leonid Brezhnev (1964-1982) và chỉ thua Stalin (1928-1953). Mà lại có tiếng là dù sao vẫn dân chủ hơn các chế độ độc tài khác, từ Cuba đến Bắc Hàn....

 

Gian lận trong bầu cử tại Nga - như thiên hạ phê phán – là chuyện thường tình. Putin còn cao điệu tới độ gian lận để chứng minh rằng đảng của mình bị mất phiếu, tức là dù sao nước Nga vẫn có một chút dân chủ, nhưng mình không thể mất quyền!

 

Xu hướng "quản lý nền dân chủ" là thủ thuật cao điệu của Putin và thế giới nên nhìn vào vấn đề thật là những gì Putin sẽ thực hiện, hơn là chuyện có dân chủ hay không tại Liên bang Nga! Thực hiện được hay chăng, với thế lực thực tế của kinh tế và xã hội, lại là chuyện khác.

 

Chúng ta bước qua Ai Cập....

 

 

***

 

Qua sự loan tải và bình luận cũng nhẹ dạ và ngớ ngẩn của truyền thông Tây phương, người ta vội nói đến Mùa Xuân Á Rập và triển vọng của phong trào dân chủ. Người ta đã lầm lẫn biểu hiện với thực chất.

 

Ai cũng muốn người dân Á Rập, Hồi giáo, hoặc mọi dân tộc khác, được quyền tự do phát biểu và đề cử người lãnh đạo trong một xã hội bình đẳng. Nhưng, từ biểu hiện là quần chúng biểu tình, có khi bị đàn áp hoặc tàn sát, đến sự hình thành của nền dân chủ, theo kiểu dáng được Tây phương coi là mẫu mực, là một khoảng cách khá xa. Ở giữa là khả năng tổ chức và nghệ thuật trình diễn.

 

Xin được nhắc lại chuyện đó vì trước khi dân Ai Cập đi bầu thì xứ này lại có biểu tình chống Thượng Hội đồng Quân lực (Supreme Council of the Armed Forces). Sự thật mà nhiều người không nhìn ra là các tướng lãnh đã đảo chính Hosni Mubarak để cứu lấy chế độ mà họ đã cùng Mubarak xây dựng từ mấy thập niên. Người viết xin khỏi nhắc lại sự thể bi quan này khi thiên hạ còn ngất ngây với hương hoa nhài.

 

Các tướng lãnh lập ra Thượng Hội đồng làm cơ chế lãnh đạo trong buổi giao thời. Sau khi Mubarak từ nhiệm vào Tháng Hai năm nay, quần chúng biểu tình vẫn thất vọng và nhiều lần xuống đường, bị chế độ mới mà cũ thẳng tay đàn áp. Một số thành phần Ai Cập Thiên chúa giáo còn bị kỳ thị và hành hung, bạo động cũng đã xảy ra.

 

Nền dân chủ như nhiều người trông đợi chưa xuất hiện. Duy nhất có một lần mà quy tắc dân chủ ấy được thể hiện là cuộc bầu cử vừa qua, một bước nhỏ trước nhiều cuộc bầu cử và đấu tranh chính trị khác từ nay cho đến năm 2013.

 

Kết quả bầu cử Tháng 11 là tổ chức Huynh đệ Hồi giáo (MB) thắng lớn. Kế tiếp là đảng Tự do và Dân chủ, theo xu hướng Hồi giáo còn cực đoan hơn lực lượng MB. Còn lại, các chính đảng gọi là tự do theo mẫu mực Tây phương đều lẹt đẹt đứng sau, sau khi đứng trước ống kính.

 

Trong ngần ấy cuộc biểu tình chống lại Thượng Hội đồng của các tướng lãnh để đòi hỏi dân chủ và trước tiên là bầu ra các cơ chế hoạch địch hướng đi của nền dân chủ, quần chúng khát khao dân chủ đều có mặt cùng một số lãnh tụ trước truyền hình. Nhưng gây tác động rất mạnh mà lại đứng ngoài để giám trận biểu tình vẫn là Huynh đệ Hồi giáo!

 

Họ cổ võ thay đổi, kín đáo vận động biểu tình mà không tham gia. Họ có lãnh đạo và cán bộ cho trò biến hóa chính trị đó.

 

Được thành lập từ 1928, như một giải pháp Hồi giáo cho việc canh tân thế giới Á Rập giữa hai giải pháp Tây phương và Xô viết, giữa các chế độ độc tài của cánh hữu hay cánh tả, Huynh đệ Hối giáo đã biến đổi khá nhiều và có kinh nghiệm dày dặn sau những chuyển hướng đó. Có khi đi từ phương pháp bạo động qua chính trị và xã hội, mà chắc chắn là không thân Tây phương.

 

Nói cho gọn thì những biến động do quần chúng khát khao dân chủ châm ngòi tại Ai Cập đã thực tế dọn cỗ cho tổ chức Huynh đệ Hồi giáo và các nhóm Hồi giáo còn cực đoan hơn. Họ sẽ làm thay đổi Á Rập mà không nhất thiết sẽ xây dựng xứ này thành một quốc gia dân chủ như nhiều người cứ mơ mộng, hoặc như truyền thông Tây phương vẫn đề cao và báo trước.

 

Khi ấy, tức là sau này, những người mơ mộng ấy chỉ còn sự chọn lựa: 1) lại ngả theo quân đội để tìm một sự ổn định tạm bợ, hoặc/và một chút đỉnh chung, hay 2) nghiêng về phía Hồi giáo với ảnh hưởng lớn mạnh hơn của giáo luật quá khích. Trong cả hai trường hợp, lập trường quốc tế của Ai Cập sẽ trở thành vấn đề cho các nước Tây phương, Hoa Kỳ, Âu Châu và Israel....

 

Vì sao những người đấu tranh cho dân chủ lại gặp số phận hẩm hiu đó? Câu trả lời ngắn gọn là tổ chức!

 

 

***

 

Trong có vài tuần mà người ta thấy ra sự tinh ma của Vladimir Putin và bản lãnh của các lực lượng Hồi giáo chống Tây phương.

 

Các quốc gia Âu-Mỹ, nhất là Hoa Kỳ, đã tốn khá nhiều tiền bạc để đong đưa giữa hai giải pháp mâu thuẫn: một là đi tìm sự ổn định hữu ích cho quyền lợi Âu-Mỹ, dù là phải hợp tác và yểm trợ các chế độ độc tài, quân chủ hay quân phiệt; hai là phát huy giá trị của dân chủ theo đúng luân lý chính trị của Tây phương. Kết quả là mang tiếng yểm trợ độc tài hoặc góp phần lật đổ các chế độ thân hữu của mình để xây dựng một nền dân chủ hiếm hoi. Quá hiếm hoi nên có thể đếm trên đầu ngón tay của một bàn tay. Thực tế là trên một ngón tay, tại Tunisie! Xin miễn nói về Lybia hay Syria....

 

Đó là bài toán của các nước Tây phương, vô địch về nói chuyện dân chủ mà làm ăn bất nhất!

 

Nhưng vấn đề không chỉ có vậy. Những người thực lòng đấu tranh cho dân chủ có nhìn ra bài học chua chát này chưa? Vấn đề là tổ chức và cán bộ.

 

Họ thiếu tổ chức và khả năng phân tách rất lạnh lùng về thực tế bên trong và bên ngoài, quốc gia và quốc tế, để biến báo xoay trở bên trong xã hội chứ không chỉ trước truyền thông quốc tế. Quốc tế vận chỉ là một phần – phụ thuộc – của vận động chính trị.

 

Một số không ít trong các lãnh tụ chỉ nhanh nhẩu xuất hiện trước ống kính Tây phương, tưởng rằng đó sẽ huy động được quần chúng. Lấy thành quả giả là bị tổn thất trong đàn áp, họ gây tổn thất thật cho quần chúng, và có khi lại dọn đường cho người khác sẽ mau chóng thanh toán họ.

 

Mua vui cũng được một vài trống canh? Hay là một số người ồn ào trong phong trào này chỉ thích làm con rối?

 

Cách ngôn: Không có tổ chức thì rất dễ bị tổ trác![NXN]

 

Âu Châu Vào Bước Ngoặt

Sunday, 29 January 2012 12:01 Published in Phân tích

Ngày mùng chín tới đây, lãnh đạo các nước Âu Châu sẽ lấy một quyết định sinh tử cho cả một đại lục hơn 500 triệu dân của 27 quốc gia, trong đó có 17 nước đã dùng chung một đồng Euro.

 


 

 

Tiếp theo Tổng thống Nicolas Sarkozy vào tháng 10, cuối tháng 11, Ngoại trưởng Pháp cũng vừa nhắc lại lời cảnh báo có thể làm thiên hạ rùng mình: nếu không cứu được đồng Euro, chiến tranh có thể bùng nổ tại Âu Châu!

 

Trên cột báo này, từ nhiều năm trước rồi, người viết vẫn tỏ vẻ hoài nghi khả năng tồn tại của việc thống nhất Âu Châu – Liên hiệp Âu châu EU như người ta vẫn gọi từ năm 1993 – lẫn kế hoạch hợp nhất tiền tệ của khối Euro.

 

Lý do rất đơn giản của sự phán đoán là sự thống nhất về kinh tế hay tiền tệ đòi hỏi một quy cách hành xử thống nhất về kinh tế, ngân sách và tài chánh của các thành viên. Nghĩa là một sự thống nhất về chính trị, với khả năng cưỡng hành của một cơ chế lãnh đạo siêu quốc gia. Chuyện đúng sai của lý luận này không quan trọng và chẳng ai có thể biết trước hoặc đoán đúng mọi chuyện - nhất là cho đa số độc giả đang sinh sống tại Hoa Kỳ và coi vấn đề Âu châu là xa xôi.

 

Tuy nhiên, tuần này, các nước Âu Châu đang đứng trước sự chọn lựa đó, tiến tới thống nhất hoặc lui về sự tan rã, với hậu quả có thể là bất ổn toàn cầu về kinh tế và xung đột Âu châu về chính trị, thậm chí quân sự như lãnh đạo Pháp đã báo động.

 

Vì vậy, bài viết này sẽ... lùi một bước mà trình bày lại toàn cảnh của các quyết định và xin cáo lỗi trước về những chi tiết quá chuyên môn mà phải giản lược hóa.

 

 

 

***

 

 

Sau nhiều năm lạc quan duy ý chí, các nước Âu châu đang đứng trước hai ngả chọn lựa. Một là "xóa nợ" hai là "nuốt nợ", cả hai ngả đều như liều thuốc đắng.

 

Xóa nợ là đồng loạt phủ nhận nghĩa vụ thanh toán trái phiếu đã lỡ phát hành, với nhiều chủ nợ công và tư sẽ bị thiệt hại, như cái giá cần thiết để duy trì hiện trạng và nhân đó mà tìm cách ngăn ngừa những tái diễn sau này. Nuốt nợ là lập ra một cơ chế chính trị có thẩm quyền liên bang để kiểm soát ngân sách quốc gia của từng nước và thống nhất sự tài trợ của từng chính quyền. Hai quyết định ấy đều đòi hỏi việc tu chính Hiến pháp Âu châu của 27 thành viên, hoặc ít nhất việc sửa sai lại quy cách hành xử kinh tế của khối Euro gồm có 17 thành viên.

 

Nếu các nước đạt nổi thỏa thuận về một sự thống nhất minh bạch, khả thi và mạch lạc thuần nhất về kỷ luật ngân sách và về quy cách tài trợ công chi trong từng nước, Âu Châu có hy vọng tiến dần đến ổn định - và đẩy lui nguy cơ suy trầm hoặc thậm chí quy thoái toàn cầu vào năm tới.

 

Ngược lại, nếu các nước không thể thống nhất lập trường về cả kỷ luật ngân sách lẫn quy cách công chi, tình trạng vỡ nợ của các ngân hàng và nhiều quốc gia sẽ tiếp tục với đà gia tốc, ngày một mạnh hơn và sâu rộng hơn. Khi ấy giấc mơ thống nhất Âu Châu được ấp ủ từ sau Thế chiến II sẽ biến thành ác mộng.

 

Và kịch bản chinh chiến truyền thống của lục địa này sẽ là thảm kịch cho cả thế giới.

 

Khi theo dõi tin tức Âu châu - thí dụ như sự lạc quan tếu của thị trường chứng khoán Mỹ và toàn cầu vào Thứ Tư 30 vừa qua vì biện pháp can thiệp có phối hợp của các ngân hàng trung ương Mỹ, Âu, Nhật, Anh và Canada, v.v... để cấp cứu các ngân hàng Âu châu có thể bị ách tắc tín dụng - người ta cần nhớ thực tế là nguy cơ vỡ nợ của các chính quyền và ngân hàng Âu châu.

 

Nguy cơ ấy khiến các chính quyền Hy Lạp và Ý theo nhau sụp đổ và tai họa có thể lan qua Tây Ban Nha, Bỉ, Pháp và Hoa Kỳ. Từ Tây Ban Nha, toàn khối Mỹ châu La tinh cũng sẽ lãnh vạ.

 

Khi mọi người đều nói, hoặc biết, rằng Âu châu có nguy cơ vỡ nợ, thị trường luôn luôn chờ đợi tin xấu và xác nhận giả thuyết bi quan nhất, khiến cho dự đoán rất dễ trở thành hiện thực.

 

Trong hoàn cảnh bấp bênh đó, kéo dài từ năm 2009 đến nay, người ta còn châm thêm một yếu tố bất ổn khác: số phận hay sự lành lặn của đồng Euro.

 

Lãnh đạo Đức và Pháp, Thủ tướng Angela Merkel và Tổng thống Nicolas Sarkozy đều nói thẳng đến điều tối kỵ trước đây, rằng ra khỏi khối Euro không là điều bất khả. Nôm na là có quốc gia sẽ rút khỏi khối Euro. Từ Tháng Ba vừa qua, Tổng trưởng Tài chánh Đức, một lãnh tụ thế giá trong liên minh cầm quyền của bà Merkel, còn phát biểu thẳng thừng rằng có nhiều nước không đáng tham dự khối tiền tệ thống nhất vì không tôn trọng quy củ chung.

 

Trong khung cảnh phập phồng lo sợ chuyện Âu Châu vỡ nợ, sự sứt mẻ của đồng Euro lại càng gây thêm bất ổn. Người viết đạ gọi đồng Euro là đồng sứt trong tinh thần đó.

 

 

***

 

 

Khi ấy, người ta trở lại với thực tế của tín dụng và tiền tệ: sự tin tưởng, tín nhiệm, vào đồng bạc, nói cho văn hoa là một "tín tệ".

 

Mọi ngân hàng đều trước tiên là khách nợ - con nợ là một cách gọi khác.

 

Ngân hàng thương mại là khách nợ của các trương chủ ký thác; các trương chủ là chủ nợ của ngân hàng. Nếu họ mất niềm tin và xếp hàng đòi nợ, nghĩa là rút tiền ký thác, thì ngân hàng có thể sụp đổ. Ngân hàng trung ương cũng vậy, là con nợ của những người sử dụng đồng tiền hay cầm trái phiếu trong tay. Họ mà không tin vào giá trị của đồng bạc hay tờ giấy nợ mà bán tháo để gìn giữ tài sản dưới dạng khác thì ngân hàng trung ương bị khốn đốn.

 

Trong hoàn cảnh đó, nếu một hay nhiều quốc gia lại có thể ra khỏi khối Euro – tự ý sau khi trưng cầu dân ý hoặc bị yêu cầu bước ra trong năm bảy năm nhất định – giá trị của đồng bạc này sẽ là gì?

 

Một triệu đồng Euro ký thác trong một ngân hàng Hy Lạp hoặc một xấp bạc Euro trong tay người dân khi ấy có còn giá trị gì không? Nếu lại là ngân hàng Ý hay Pháp, hoặc người dân Đức, hậu quả sẽ ra sao? Suy từ vài thí dụ đó thì dù chẳng là chuyên gia kinh tế, mọi người đều đoán ra giả thuyết có xác suất cao nhất: thiên hạ rút tiền ở mọi nơi và ký thác vào ngân hàng Đức. Hàng loạt ngân hàng hay quốc gia không chỉ vỡ nợ mà phá sản!

 

Những tin tức dồn dập từ nhiều tháng nay đang dẫn tới kịch bản kinh hoàng đó. Hậu quả là nhiều người sẽ ghét Đức và càng nghi ngờ giải pháp cấp cứu do lãnh đạo Đức đề nghị! 

 

Bây giờ, làm sao ngăn ngừa và đẩy lui tâm lý hốt hoảng đó, hoặc làm sao khôi phục niềm tin? Mà tin vào cái gì?

 

 

***

 

Trước hết, người ta có thể trấn an dư luận rằng dù các ngân hàng hay chính quyền có thể bị vỡ nợ, Âu Châu vẫn có "cơ chế tài trợ sau cùng", một cái lưới đủ bền chắc và an toàn để chống đỡ toàn bộ kiến trúc bị rung rinh.

 

Ngân hàng trung ương của Âu Châu hoặc một số quốc gia không nằm trong khối Euro có thể là nhà tài trợ sau cùng nếu các ngân hàng theo nhau sụp đổ. Các thành viên khác có đồng ý cho Ngân hàng Trung ương ECB chức năng đó không, và với tiền ở đâu? Đấy là một cuộc tranh luận kỹ thuật không chỉ có kích thước tài chánh mà còn có nội dung chính trị và đã bùng nổ từ nhiều tuần nay khi người ta thấy khả năng ứng phó rất giới hạn – vì thiếu tiền - của Quỹ Bình Ổn Tài chánh Âu Châu EFSF. Trong tuần này, ta sẽ thấy định chế ECB sẽ là đề mục thời sự nóng nhất.

 

Yếu tố quyết định ở đây là chính trị.

 

Đằng sau ECB còn có một tấm lưới khác, Quỹ Tiền tệ Quốc tế IMF. Nhưng định chế này có gần 200 thành viên và một đại gia có ảnh hưởng đến gần 17% của phần vốn và quyền quyết định là Hoa Kỳ. Các nước bên ngoài Âu Châu có chấp nhận cho IMF hút sạch vốn liếng nước nôi để chữa lửa Âu Châu không? Mà IMF không có thói quen cấp cứu vô điều kiện. Đòi hỏi chấn chỉnh của IMF là loại điều kiện mà nhiều nước đang phát triển đã coi như thuốc đắng có thể dẫn tới đột tử về chính trị.

 

Yếu tố quyết định ở đây cũng vẫn là chính trị.

 

Ngoài cái lưới ngân hàng trung ương, cơ chế thứ nhì có thể trấn an thị trường là các chính quyền.

 

Nếu ngân hàng có chức năng tín dụng và tiền tệ, chính quyền có chức năng ngân sách (thuế vụ và công chi thu). Khi thị trường đang hốt hoảng như hiện nay, người ta có thể bớt sợ nếu có nhà tài trợ sau cùng là ngân hàng trung ương và ngoài ngân hàng trung ương thì còn một nhà tài trợ sau cùng nữa là chính quyền. Mà chính quyền nào?

 

Một chính quyền siêu quốc gia, có đặc tính liên bang trên các nước Âu châu khi ấy phải chấp nhận "quy chế tiểu bang" của mình, ít ra về kinh tế. Cơ chế siêu quốc đó chưa có. Đức và Pháp đang vận động các nước tiến tới giải pháp này. Đề nghị ấy hàm nghĩa là một cơ chế còn lớn mạnh và có thẩm quyền hơn những cơ quan hiện hữu của Liên Âu để kiểm soát việc công chi thu của các hội viên.

 

Và cụ thể hơn nữa, các nước phải cho cơ chế này một tổ chức kỹ thuật thống nhất để bảo đảm là mọi hội viên đều chấp hành quy luật liên bang và một thể thức hành xử linh động để kịp thời can thiệp và cấp cứu khi hữu sự. Yếu tố ở đây cũng vẫn là chính trị! Nhất là chính trị.

 

Và đòi hỏi việc tu chính lại Hiến pháp Âu châu, hoặc các Thỏa ước Maastricht, Lisbon, lẫn soạn thảo ra một sơ đồ tổ chức và điều lệ kiểm soát, can thiệp, v.v.... Chúng ta chưa nói đến cơ chế ngoại giao hay quân sự thống nhất của Âu Châu mà chỉ tạm nghĩ đến dàn cảnh sát thuế vụ và thanh tra ngân hàng thôi!

 

Nghĩa là người ta cần viết lại tờ giấy khai sinh của Âu Châu. Trong nội một tuần thì dù có là Vua Charlemagne hay Đại đế Napoléom hay Otto Bismarck hoặc Winston Churchill và Charles de Gaulle, v.v... cũng khó có thể làm được việc đó. Tối đa thì lãnh đạo Âu châu chỉ có thể vẽ ra lộ trình cải cách, một khung cửa hẹp duy nhất còn lại. Trước khi mọi sự đều tanh bành.[NXN]

 

 

 

Articles View Hits
719583
VietTribune.com is an online newspaper owned by Viet Tribune Media Corporation. All rights reserved. 2012