A+ A A-

Hai cuộc bầu tử tuần qua, tại Hy Lạp và Pháp, khiến chúng ta nhớ lại lịch sử....

Vì vậy, trong khi các thị trường tài chính quốc tế cùng tơi tả với đồng Euro rơi rụng, xin hãy nói về lịch sử.

 Sau ba trận đại chiến 1871, 1914 và 1939, Âu châu đã có 67 năm yên bình kể từ 1945. Sự yên bình đó có ba thành tố mà đa số người dân Âu Châu đã quên và dân Mỹ thì... khỏi cần biết. 

 Thứ nhất là sức bảo vệ của Hoa Kỳ với lá chắn là Minh ước Phòng thủ Bắc Đại Tây Dương NATO dù Liên bang Xô viết vẫn đòi Tây tiến sau khi nuốt được phân nửa miền Đông của Âu Châu. Thứ hai là sự liên kết của hai cường quốc đã ba lần giao tranh, là Pháp và Đức. Trong cả ba lần này, Pháp bị đại bại và ăn mừng chiến thắng của hai lần sau là nhờ Hoa Kỳ can thiệp. Thứ ba, dưới lá chắn NATO và sự hợp tác Pháp-Đức rất khắng khít, Âu Châu đã xây dựng hai ảo tưởng là việc thống nhất kinh tế sẽ đem lại thịnh vượng cho mọi người, để tiến tới thống nhất chính trị qua quyết định xóa bỏ biên cương. 

 Công dân Âu Châu từ nay sẽ tự do di chuyển, di trú và di dân xứ này sẽ thoái mái trở thành công dân xứ khác. Chân trời viễn mơ là Liên hiệp Âu châu Thống nhất sẽ xuất hiện như Liên bang Hoa Kỳ thống nhất, United States of America. Tuần qua, giấc mơ đó đã tàn phai. 

 Vì vậy bài này mới mượn chữ Trịnh Công Sơn để nói về sự tàn phai đó. Và cảnh báo nguy cơ tàn phá như Âu châu đã gặp ba lần trong lịch sử cận đại....

Đáng lẽ ra, người ta đã có thể thấy mối nguy này từ năm 1991, khi Liên bang Xô viết tan rã và nước Đức tái thống nhất (lần trước là vào năm 1871...). Hai chục năm sau thiên hạ mới loáng thoáng nhìn ra vì có hai chục năm ảo, đánh dấu từ Hiệp ước Maastritch năm 1992 để lập ra Liên Âu và tiến tới United States of Europe. Bên kia có USA, bên ta có USE.

Bây giờ, trở lại chuyện bầu cử tại Âu Châu.

 Từ năm 2008 đến nay, cuộc khủng hoảng Âu châu đã khiến 11 chính quyền tại chức bị cử tri đuổi về. Lần mới nhất là khi Tổng thống Nicolas Sarkozy của Pháp thất cử hôm mùng sáu vừa qua. Sau này và năm tới, sẽ còn nhiều trường hợp khác. Đó là về trung hạn. Trong ngắn hạn và lý do khiến các thị trường tài chánh tơi tả dù ai cũng đoán ra kết quả bầu cử tại Pháp chính là cuộc bầu cử quốc hội Hy Lạp.

 

Chính quyền Hy Lạp đã đổ từ năm ngoái và chính phủ lâm thời hiện do hai đảng lớn cùng liên minh trên cái trục "tả-hữu" của đảng Pasok cánh tả và đảng Tân Dân chủ cánh hữu. Cuộc bầu cử Quốc hội hôm mùng sáu chẳng những làm liên minh này sụp đổ mà còn cho thấy sự xuất hiện của phong trào cực hữu, kết tinh vào đảng Kim Bình Minh (bình minh nạm vàng chứ không phải bình minh màu vàng). Các đảng lớn đều bị cử tri trừng phạt và đưa lên những đảng cực đoan ở vùng biên tế, mạnh nhất là từ phe cực hữu với chủ trương đề cao tinh thần quốc gia dân tộc và bài ngoại.

 

Hiệu ứng cực hữu tại Hy Lạp cũng được phản ảnh tại Pháp khi đảng "Mặt trận Quốc gia" (Front National – FN) đã lần đầu tiên đạt được mức hậu thuẫn của 18% cử tri. Chủ đích của lãnh tụ FN, nàng Marine Le Pen, là cho Sarkozy về vườn, đảng trung hữu UMP của ông tan tác, để FN sẽ vào Quốc hội sau cuộc bầu cử Lập pháp tháng tới, và trở thành lực lượng đối lập chính. Nước Pháp cũng có bình minh nạm vàng với hiện tượng FN và nàng Marine.

Do đó, tương lai sẽ là sự vàng vọt.

***

Vì sau những biến động chính trị liên tục tại Tây Ban Nha, Ý Đại Lợi và Hoà Lan, kết của bầu cử Pháp-Hy đó cho thấy rằng người dân Âu Châu đã phủ nhận hai ảo tưởng vừa nói ở trên. 

 Thứ nhất, quyền tự do di trú trong một Âu châu hết cương vực là sai, hiệp ước di trú ký kết tại Schengen năm 1985 là một lầm lẫn. Cánh hữu không muốn di dân xứ khác tràn vào sinh sống và móc túi hoặc cướp mất việc làm của họ. Trong cánh hữu đó của Pháp, có nhiều thợ thuyền đảng viên Cộng sản đã cực kỳ bất mãn mà bỏ phiếu theo đúng bản năng, là cực hữu, là cực kỳ bảo thủ. Người ta đã lầm theo trí thức Âu châu trong cả thế kỷ mà gọi cộng sản là cực tả, đấy là chuyện khác!

 Khi bị thất thế, Tổng thống đương nhiệm (cho đến ngày 15 này) Sarkozy vội rượt theo con tầu đang lăn bánh mà đòi xét lại Hiệp ước Schengen, nhưng không kịp. Còn Tổng thống tân cử François Hollande thì tránh nói đến chuyện ấy, nhưng cũng biết là rất nhiều người trong cánh tả của đảng Xã hội của ông và những mảnh vụn cực tả khác rất hoài nghi việc thống nhất Âu châu.

 Sở dĩ như vậy là vì ảo tưởng thứ hai, về kinh tế. 

 Việc thống nhất kinh tế Âu châu không đem sự thịnh vượng cho mọi người mà là một bất công! 

 Thiểu số ưu tú là doanh gia, nhà đầu tư, các ngân hàng, và giới công chức quốc tế trong cơ chế Âu châu đang ngồi mát ăn bát vàng tại Bruxelles hay Stratbourg thì thích chuyện ấy và ngợi ca kinh tế thị trường mở rộng ra toàn cõi Âu châu cho 500 triệu dân. Chứ thành phần trung lưu và bình dân thì bị thiệt hại từ vụ khủng hoảng 2008, mà lại còn bị... "cạnh tranh bất chính" từ đám di dân nghèo hơn. Từ miền Đông thì có Ba Lan tiêu biểu của Đông Âu rách rưới, từ miền Nam thì có dân Bắc Phi hay Hồi giáo....

 Trong không khí bài ngoại đó mới có chuyện giảm chi và kế hoạch khắc khổ kinh tế mà 25 nước Âu châu đã đồng ý từ Tháng Ba và từng nước đang đòi xét lại. Mới nhất và mạnh miệng nhất là Pháp. Sarkozy bị ghét bỏ vì phong cách riêng nhưng còn có tội vì là một kiến trúc sư cho kế hoạch đó, người kia là Thủ tướng Angela Merkel của Đức. 

 Thuộc dòng hậu duệ của Charles de Gaulle, kiến trúc sư của chiến lược liên minh với Đức thời xưa, Sarkozy là nạn nhân của liên minh đó.

Bây giờ mới đến chuyện Pháp-Đức.

 Giàu có nhất, kỷ luật nhất về chi thu và nhờ đó cũng có lợi nhất trong dự án thống nhất kinh tế Âu châu - bên trong có 17 nước thống nhất tiền tệ - Cộng hoà Liên bang Đức thấy rằng các nước không thể chi quá sức thu và tiếp tục vay tiền để tăng chi quá mức nên chủ trương giảm chi. Hãy cố giảm dần mức bội chi ngân sách để tiến tới quân bình. Một nền kinh tế nhỏ như Hy Lạp thì còn có thể cứu được nguy cơ vỡ nợ hầu còn cứu lấy đồng Euro. Chứ nước nào cũng noi gương xấu của Hy Lạp mà tiếp tục chánh sách bao cấp và chi tiêu bừa phứa thì Âu châu sẽ không có tương lai.

 Và nhất là cử tri Đức không chấp nhận việc dân Đức tung tiền cho các nước khác tăng chi để mua phiếu của dân chúng theo kiểu báo cấp cố hữu. Trong ngần ấy cuộc bầu cử cục bộ tại Đức, đảng CDU và liên minh cầm quyền của bà Merkel đều thất cử. Nếu đà này tiếp tục, qua cuộc bầu cử năm tới, bà Merkel cũng sẽ xếp hàng thất nghiệp sau các lãnh tụ như Luis Rodriguez của Tây Ban Nha, Sylvio Berlusconi của Ý, George Papandreou của Hy Lạp, Mark Rutte của Hoà Lan và Nicolas Sarkozy của Pháp.... Vì vậy, nước Đức sẽ khó nhượng bộ.

 iến trúc Âu châu dựa trên liên minh Pháp-Đức, với sự hỗ trợ của Hoà Lan trong khối Benelux nguyên thủy. Kiến trúc đó đang rạn nứt và người ta không trở lại thời điểm 1992 huy hoàng của Hiệp định Maastricht, tờ khai sinh ra Âu châu thống nhất. Người ta trở lại Âu Châu thời 1930, hay xa hơn nữa....

 Lý do là nước Pháp dưới sự lãnh đạo của một tổng thống đắc cử bất ngờ - vì François Hollande vốn dĩ tài hèn sức mọn so với khuôn mặt sáng giá hơn của đảng Xã hội là Dominique Straus- Kahn, sáng giá đến tan nát vì mảnh quần hồng – bỗng dưng thành mũi xung kích của các nước nghèo hơn ở miền Nam để đòi hỏi đại gia là nước Đức phải thoả mãn yêu cầu của họ. Xin nói qua về địa dư chính trị: Pháp là quốc gia cực Tây của đại lục địa Âu Á, nhưng cũng là bản lề Nam Bắc của khu vực Tây Âu. 

 Pháp có miền Bắc tiến bộ và tiếp cận với biển Bắc của các nước Âu châu tiên tiến nhất. Nhưng Pháp cũng có miền Nam tiếp giáp với Địa Trung Hải và các nước nghèo nhất Âu châu. Nước Pháp đã thống nhất được ngôn ngữ, văn hoá và chính trị để thành cường quốc từ thế kỷ 17. Nhưng nhờ công lao tàn phá của Napoléon Đại đế mà không đương cự nổi nước Đức khi dân Đức thống nhất quốc gia. Chiến thắng năm 1871 đánh dấu việc đó.

 Sau ba cuộc đại chiến, liên minh Pháp Đức đã phần nào duy trì được hòa bình và thịnh vưọng. 

 Chiến lược cực kỳ xuất sắc của Pháp, từ de Gaulle cho đến thời nay là dùng cái lực của Đức mà tạo cái thế cho mình. Chuyện ấy đã xong. Khi quyết liệt tăng chi để tăng trưởng và chống lại kế hoạch kiệm ước khắc khổ của Đức, Pháp ra khỏi chiến lược đó  - và sẽ bẻ gãy bàn lề Nam-Bắc.

 Nghĩa là để Âu châu trôi lại vào bản năng cố hữu. Đèn nhà nào nhà ấy rạng, mạng người nào người ấy giữ. Chủ nghĩa dân tộc cực đoan đang hồi sinh, dân Âu châu sẽ nhìn nhau như kẻ quịt tiền hay cướp việc của mình. Đấy là thời của các lãnh tụ cực hữu đầy chất hùng biện ma quái. 

 Xuất sắc nhất trong số này là Adolf Hitler, nổi lên từ vụ Tổng khủng hoảng 1929.

 Chúng ta đang chứng kiến màn cuối của một vở kịch đẹp. Qua màn sau, chúng ta có thể gặp bi kịch của sự tàn phá.... [NXN]

Published in Phân tích
Saturday, 12 May 2012 19:10

Hồi Ức Về Mẹ

 NGUYỄN THỤY LONG



Đã mười mấy năm nay, mỗi buổi sáng tôi không còn nghe tiếng dép quen thuộc của mẹ nữa ở phòng bên cạnh. Cụ dậy thật sớm, quét tước nhà cửa rồi pha lấy một ấm trà, một ly cà phê, cụ ngồi nhâm nhi chờ trời sáng hẳn.

Nằm ở phòng bên này nhà, mái tôn chung, chỉ ngăn cách bằng một bức tường lửng và tấm cửa gỗ mỏng, tôi tưởng tượng ra được đủ thứ, từng công việc của mẹ. Nào là lúc cụ pha trà vào cái bình trà nhỏ xíu có hình tiên ông, ly cà phê cụ pha vào cái phin bằng đồng của tôi được người ta tặng hồi làm báo, mà bà giữ rất lâu, mấy chục năm trời. Cái phin này cụ giữ mới còn, nếu vào tay tôi hồi đó thì đã ra chợ trời lâu rồi. Thời gạo châu củi quế, cái gì cũng bán được ngoài chợ trời. Thuởấy sao mà khổ thế, sau ngày 30 tháng Tư năm 75, miền nam bại trận, tôi thất nghiệp, hết thời. Sau khi sách báo xuất bản ở miền Nam trước năm 1975 đều bị người thắng trận đốt sạch, và ký giả, nhà văn thì bị bắt bỏ tù coi như tội đồ, đổ cho nhiều thứ tội. Nhà báo, nhà văn chúng tôi bị kỳ thị ra mặt, bị coi như cùi hủi. Những nhà báo nhà văn chếđộ cũ, còn một chút gì trong đầu phải tự gác bút mà thôi, tôi ở trong số người ấy. Niềm đau ấy còn mãi đến bây giờ. Mặc dầu tôi từng được công an khuyên nên quên đi để xây dựng đất nước, nhưng làm sao tôi quên được, khi niềm đau của tôi vẫn còn mãi trong ký ức. Bao nhiêu là đám giỗ của người thân quen vào ngày 30 tháng Tư, mà phải đổi lại ngày âm lịch là ngày 19 tháng Ba năm ấy, để khỏi bị làm phiền, trong khi người ta ăn mừng chiến thắng tưng bừng, cờ xí rợp trời và những phát biểu của vị nguyên thủ quốc gia cùng những người có công trong chiến thắng ấy. Khi đất nước hoàn toàn giải phóng và thống nhất, mang lại hoà bình cơm no, áo ấm cho toàn dân. Sao những người như tôi vẫn thấy đau, vẫn khốn khổ. Vì nhiều thứ, từ những cuộc chia ly người gia đình, mà tưởng chừng như không bao giờ còn gặp lại nữa và tiễn những người thân vượt biên ra đi, để có người còn trở lại, có người vĩnh viễn nằn dưới lòng biển đông.



Những buổi sáng như thế, ởấp Đông Ba xưa, nay là phường Bẩy quận Phú Nhuận. Căn nhà xưa của gia đình, mẹ tôi gìn giữ nó, không để cho bị tịch thu, vì anh em tôi đều bịđưa đi học tập cải tạo hết rồi. Mẹở một mình trong căn nhà ấy, đồđạc trong nhà có gì bán dần, bán mòn đi đểăn và thăm nuôi hai anh em chúng tôi trong trại học tập. Cụ lặn lội vượt hàng trăm cây sốđường rừng đểđến với con, những đứa con tù tội khốn khổ của bà. Tới trại tù, trước khi được thăm nuôi người ta dạy mẹ tôi và những thân nhân thăm tù, gặp mặt phải khuyên bảo và giáo dục những người tù như chúng tôi câu: "Con ráng học tập tốt rồi nhà nước nhân đạo, khoan hồng tha cho về xum họp với gia đình".

 

Bây giờđã mấy chục năm qua, khi ai nhắc hoặc nghe lại câu này tôi vẫn có cảm giác muốn buồn nôn. Tôi biết sau khi phải học vẹt như thế thì họ mới cho thăm nuôi con mình, không biết cụđã nghĩ gì. Nhưng có lẽ mẹ tôi rất là đau khổ, tôi chỉ biết thương mẹ và cảm ơn mẹ, khi mẹ gầy hốc hác ngồi trước mặt tôi. Không chừng mẹđã phải nhịn đói, nhịn khát để mang miếng cơm vào cho con. Một chút gạo, quí giá như những hạt châu ngọc. Vậy mà tôi từng bị tịch thu những hạt gạo ấy, bỏ vào kho, hoặc cho ai ăn không biết, có thể là mấy thằng khốn nạn, có thể lợn gà. Với mẹ, tôi vẫn là đứa con nhỏ bé, dù tôi đã lớn, đã trưởng thành, nhưng những hạt cơm của mẹ cho, tôi coi quí giá như những hạt châu ngọc. Vào thời tù tội đó, mỗi khi ra cổng trại đểđi lao động và thoáng gặp những bà mẹ tay xách, nách mang đi thăm con. Tôi lại giấu những giọt nước mắt của mình, lúc đó tôi rất nhớ mẹ tôi.

 

Tôi và những bạn bè có những nỗi đau giống nhau, có thể họ có những mất mát lớn hơn tôi nhiều, vậy mà chúng tôi vẫn cố gắng sống, chỉ người nào chịu đựng không nổi nữa thì chỉ còn một lối thoát là chết hoặc câm lặng để sống mòn. Tôi không đủ can đảm nên chọn cách sống mòn và mấy chục năm qua, tôi đã là một lão già ốm đau dặt dẹo, gần đất xa trời, chưa biết bao giờ thì xa lìa trần thế.

 

Nhận được tin sét đánh mẹ ra đi do bạn tôi (Từ, Nhã) báo tin qua điện báo, tôi rất buồn. Hồi ức về mẹ sống dậy trong tôi.

 

Tôi tuổi ngũ thập tri thiên mệnh, giắt díu vợ con về sống bên mẹ, trước những ngày mẹ sẽđi nước ngoài do em gái tôi bảo lãnh cho cụ. Tôi là người không có hộ khẩu, không có gì hết ngoài tờ giấy ra trại, và cũng đã từng bịđuổi khỏi nơi cư trú vì không có quyền công dân. Nhưng tôi cứ liều trở về ngôi nhà cũđể sống bên mẹ, dù có bị kết tội là "cư trú bất hợp pháp trên căn nhà mình làm chủ". Và sẵn sàng khăn gói quả mướp đi tù thêm một lần nữa, nếu họ muốn bắt tôi về tội ngoan cố hoặc chống đối gì đó, tôi cũng thây kệ cha nó!

 

Buổi sáng khi tôi nghe những tiếng động và tiếng dép của mẹở phòng bên cạnh, ngăn cách bằng một bức tường lửng, cánh cửa thông sang. Tôi cũng thức giấc, sửa soạn cho một chuyến đạp xe thồ xuống tận Long An buôn vài giạ gạo để kiếm tiền chênh lệch về nuôi vợ con. Thằng con trai út của tôi, thằng Cua, lẫm chẫm xách bị quần áo của cụ, mà vợ tôi giặt chiều qua mang ra trước cửa sổđểđưa cho bà nội. Con chó Ki của bà nội, lẩn quẩn bên chân bà mừng rối rít. Nó phởn phơ, hạnh phúc. Nó cũng thương bà cụ, tôi biết tối nào nó cũng nằm ngủ dưới gầm giường của cụđể canh chừng. Phòng của bà cụ có cửa sổ nhìn qua hàng rào sang chùa Huê Nghiêm. Ở căn nhà này gia đình tôi đã nghe tiếng tụng niệm tiếng cầu kinh đều đều cả mấy chục năm trời, với tiếng chuông chùa buồn vang vọng lan xa tới những nếp nhà tranh cuộn mình trong khói lam chiều, và cũng từ nơi này tôi trở thành nhà văn, nhà báo.

 

Hồi ức về mẹ thì nhiều lắm, với một bà cụ sống gần trọn thế kỷ. Từ những ngày thơấu ở Láng ngoài Bắc, trận chết đói năm Ất Dậu, 1945, rồi ngày Hà Nội nổ súng kháng chiến đánh đuổi thực dân Pháp, ngày mà nhiều người yêu nước trẻ ôm bom ba càng lao vào xe tăng địch để trở thành chiến sĩ vô danh, những ngày chạy tản cư lên mạn ngược, bố tôi từng theo kháng chiến, mẹ tôi phải gói những chiếc bánh gai đi bán, nuôi anh em tôi thời thơ dại, tiếp tế cho bố, đang đeo đuổi cuộc kháng chiến chống thực dân. Gia đình tôi hồi cư về Hà Nội, mục đích chính là để cho tôi được học hành, không phải là học để trở thành một thứ nhi đồng, sẵn sàng đấu tố cha mẹ hoặc tố cáo cha mẹ là Việt gian hoặc được dậy dổ phải căm thù tầng lớp trí thức tiểu tư sản, mà cha mẹ tôi là những người thuộc tầng lớp ấy, làm vừa lòng những ai đó đang cầm quyền sinh sát ngoài vùng kháng chiến. Bố tôi cũng trở về Hà Nội mang theo bệnh sốt rét kinh niên. Trước ngày chia đôi đất nước, gia đình tôi đã vào miền Nam sinh sống, chính xác là Sài Gòn, rồi bố tôi mất, khi đó tuổi ông còn rất trẻ.

 

Sau đó cuộc di cư vĩđại của người miền Bắc năm 1954, mang theo bao nhiêu bạn bè đồng hương của tôi, căn nhà gỗ lợp tôn của gia đình tôi ở hẻm Phát Diệm, mà ngày xưa có tên là sở rác Nguyễn Tấn Nghiệm, vùng Cầu Kho, đã đón bao nhiêu những người bạn nhỏ của tôi, khi đó các anh còn ở trại học sinh Phú Thọ. Những bữa cơm Bắc kỳ, cà pháo chấm mắm tôm, canh cua rau đay của mẹ mời, làm các anh cũng ấm lòng, đỡ nhớ quê hương.

 

Chúng tôi mon men theo nghiệp thơ văn. Căn gác của tôi lưu lại biết bao nhiêu là thơ văn của Trần Dạ Từ, thơ của Đỗ Quí Toàn, nét bút tài hoa của Lê Đình Điểu, anh thường sang nhà tôi chơi, thơ lục bát của Viên Linh và nhiều những bài thơ, bản thảo của các bạn khác nữa, những bài thơ viết lên vách ván hoặc giắt trên mái tôn. Từ cửa của căn gác gỗ luôn luôn mở rộng tôi nhìn lên thấy tháp chuông nhà thờ Huyện Sĩ và nhìn xuống thì thấy con hẻm lầy lội, cái máy nước suốt ngày đông đảo người gánh, đôi khi xảy ra xô xát, cãi vã, cả chửi thề, chính anh em chúng tôi cũng phải đứng canh để xách nước cho gia đình, trong xóm lúc nào củng ồn ào, có tiếng ca cải lương của một cô gái nào đó mơước một ngày nào mình trở thành đào cải lương, sáng chói trên sân khấu, thời đó là thời của Út Trà Ôn, của Thành Được, của Hữu Phước, của Út Bạch Lan v.v.. những chuyện nhậu nhẹt ăn nói lung tung của những anh bất mãn đời vì nghèo.

 

Căn nhà đó không còn nữa khi mẹ tôi thất bại trong chuyện làm ăn, bà phải bếđứa em gái nhỏ của tôi đi Lào cùng với bà Dì tìm đời sống khác, tiếp tục nuôi anh em chúng tôi, dưới mắt bà chúng tôi vẫn là những đứa trẻ nhỏ dại, cần đến sự săn sóc của bàn tay người mẹ.

 

Ngày mẹ tôi đi Lào thật nghèo nàn, tôi tiễn mẹ ra sân bay Tân Sơn Nhất, mẹ mặc áo cánh trắng quần đen, trên tay bếđứa em gái tôi, xách theo một bị quần áo, không có lấy chiếc va ly, mẹ còn kịp cho tôi mấy chục đồng bạc, tiền bà còn sót lại không thể tiêu được ở xứ người. Mẹ tôi đi vào phòng cách ly cùng với đám hành khách đông đảo, tất cả mọi người đều ăn mặc sang trọng, riêng mẹ tôi và em gái tôi thì nghèo nàn đến thảm hại. Khi đó nước mắt tôi mới chảy ra, mẹ và em tôi khuất bóng sau cửa kính tôi mới quay đi, tôi ra bãi cỏ trước phi trường nằm ngửa mặt nhìn lên trời nắng gắt xem chiếc máy bay nào đưa mẹ và em tôi đi. Thằng em trai tôi thì ở lại sống nhờ vả họ hàng, hy vọng còn được học hành đàng hoàng. Đó là lần thứ hai trong tuổi đời còn non trẻ của tôi phải chịu đựng nỗi buồn xa mẹ. Lần thứ nhất khi còn ở Hà Nội, tôi chia tay với mẹ, để mẹ cõng thằng em trai tôi lên chiến khu tìm bố. Buổi sáng hôm ấy Hà Nội có sương mù, tôi đứng trên bao lơn ở số nhà 38 ngõ Hoà Mã, nhà của bác tôi nhìn mẹ khuất trong sương mù ởđầu chợ Hôm. Những chục năm đã qua, mẹ vẫn tần tảo nuôi con, bây giờ mẹ lại phải ra đi vì cơm áo.

 

Tôi dời công viên, đạp xe lang thang trên đường phố Sài Gòn, tôi chẳng thiết ăn uống gì, mặc dầu trong túi có mấy chục bạc của mẹ cho, tôi phải mang về chia cho thằng em, nó cũng cần đồng quà tấm bánh của mẹ. Thôi xa rồi những bữa cơm canh cua rau đay cà pháo chấm mắm tôm. Tôi đạp xe qua trường học, các bạn tôi đã vào lớp, hôm nay vắng mặt tôi và có lẽ sẽ vắng mặt vĩnh viễn.

 

Buổi chiều tôi đạp xe về khu trường đua Phú Thọ, qua con đường Nguyễn văn Thoại, còn là rừng cao su rợp bóng cây, bên phải con đường rải rác những nếp tranh toả khói lam chiều, sau lùm cây kia là xứ Nam Hoà, xứđạo của người Bắc di cư, tôi nghe tiếng chuông nhà thờ và nghe tiếng cầu kinh bài kinh Lạy Cha: "Lạy cha chúng con ở trên trời…chúng con nguyện danh Cha cả sáng…nước Cha trịđến… ý cha thể hiện dưới đất cũng như trên Trời…Xin Cha cho chúng con hôm nay lương thực hằng ngày và tha nợ chúng con…như chúng con cũng tha kẻ có nợ chúng con…Xin chớđể chúng con sa chước cám dỗ…hằng chữa chúng con cho khỏi sự dữ…A men..", nắng chiều thoi thóp và tiếng cầu kinh sao mà buồn thế.

 Tôi có hẹn với Hoài Nam, tức Trần Dạ Từ, ở nhà Nguyễn Nhật Duật ở Bình Thới thuộc khu Phú Thọ. Khi đó tôi đói meo, nhưng vẫn không ăn gì. Trần Dạ Từ, có lẽ từ trong trại học sinh Phú Thọ ra, hỏi tôi câu đầu tiên:

 

-Mẹ đi rồi hả?



-Ừ mẹ đi rồi.

 

Tôi trả lời thế, vì Trần Dạ Từ coi mẹ tôi cũng như mẹ anh. Tình thân ấy kéo dài suốt mấy chục năm trời cho đến bây giờ vẫn còn nguyên vẹn. Những đứa con của mẹ không bao giờ quên mẹ.



Tôi đói quá, hỏi Nguyễn nhật Duật:

 

-Nhà còn gì ăn không?

 

-Cơm thì hết rồi, nhưng miếng cháy làm rượu thì còn, cậu ăn tạm nhé.

Gia đình Nguyễn Nhật Duật thuởấy nghèo lắm cũng như bao nhiêu người di cư khác, ông bà phải cất rượu đi bán để nuôi bầy con. Tôi ăn miếng cháy cơm rượu sao mà ngon thế, lần đầu tiên tôi phải ăn nhờ và tôi nhớ mãi không quên.

 

Đêm hôm đó trăng sáng vằng vặc, khu Bình Thới, giáp ranh với đường Lạc Long Quân là một vườn hoa nhài, người miền Nam gọi là Hoa Lài thơm ngát. Sau một chầu cà phê ở quán Con Nhạn, trong khu vườn lài, chúng tôi ra ruộng hoa lài ngồi chơi, ngắm trăng, lòng dạ tôi rối bời vì nhớ mẹ, mẹ bây giờđã ở bên Lào rồi, có lẽ mẹ cũng đang nhớđến những đứa con của cụ. Không biết đêm nay cụ và em tôi ngủ nhờ nhà ai? Bà dì tôi đã thu xếp được một căn nhà nào chưa? Tôi lại muốn khóc. Khi đưa cụđi tôi chưa khóc được, hoặc mới khóc được một ít.

 

Tiếng thổi tiêu tài hoa của Trần Dạ Từ cất lên vi vút, tôi nhớ tiếng sáo này khi mới quen anh ở quán cà phê Gió Bắc ởđường Phan Đình Phùng, hoà với tiếng ở cái đĩa hát đa mòn hát bài Hướng Về Hà Nội của Hoàng Dương. Tôi thiếp đi trong giấc ngủ. Ngày hôm sau và nhiều hôm sau nữa tôi và Trần Dạ Từ bắt đầu cuộc sống bụi đời, chúng tôi thuê căn gác ở Bình Thới, nhìn xuống con đường Lạc Long Quân, đêm đêm nghe tiếng bánh xe bò di chuyển không biết nó vềđến đâu, tiếng xe bò nghiến trên mặt đường đá âm thanh khô khốc… cái đèn bão treo ở gầm xe đung đưa. Chúng tôi không có nghề nghiệp gì, nghiệp thơ văn thì quá eo hẹp, những bài thơ của Trần Dạ Từđăng báo thì không có tiền, những truyện ngắn của tôi viết còn dở quá nên bị toà báo vứt vào xọt rác là chuyện thường. Những buổi chiều bụng hai thằng đói meo, chúng tôi đèo nhau trên chiếc xe đạp cọc cạch thường xuyên xẹp lốp đi kiếm ăn, đúng ra là nhờ bạn bè cũng chưa có nghề nghiệp như hai đứa chúng tôi khúc bánh mì, hoặc quí giá là bao tô hủ tíu ăn không đủ no bụng…của đứa trẻ tuổi đang lớn.

 

Rồi tôi nhập ngũ thời gian sau, từ trại huấn luyện tôi viết thư về cho Từ, Từ hồi âm, tôi còn nhớ câu Từ viết: "…cũng may mà cậu có cơm ăn, không còn đói như tớ bây giờ nữa, cố gắng lên…hãy ghi nhận lại tất cả." Giòng đời không xuôi chảy, sau đó tôi ở tù khám Chí Hoà mất một năm. Khu quân phạm. Mẹ tôi nghe tin từ bên Lào trở về, thăm nuôi tôi cụ mang vào cho tôi một bát canh cùng những đồăn thăm nuôi. Tôi nhớ mãi bát canh ngày hôm đó. Sau này tôi viết thành một truyện ngắn nhan đề là Bát Canh Của Mẹ, tôi trúng giải nhất của một tờ tuần báo. Rồi từđó tôi vào hẳn nghề làm báo viết văn, cùng với bạn bè ngày xưa nay cũng đeo đuổi nghề làm báo viết văn. Từđã có vợ là Nhã Ca, cũng là người làm thơ viết văn. Chúng tôi trôi nổi với nghề nghiệp qua nhiều chục năm trời. Mẹ tôi từ Lào lại về, gia đình đoàn tụ, thế là đủ…

 

Cho đến ngày tôi trở thành kẻ ngã ngựa, rồi tù tội, mẹ vẫn không bỏ con, bỏ những đứa con không còn nhỏ dại gì, nhưng chúng quá khổ. Tôi lại gặp cụở phòng thăm nuôi, già yếu hốc hác. Con đường rừng hiểm trở, người thăm nuôi phải vịn nhau mà đi. Dù khổ sở nhưng tôi muốn được ở mãi bên mẹ.

 

Buổi sáng sớm tinh mơ tôi không còn nghe tiếng dép lẹp kẹp của mẹở nhà bên cạnh nữa, những âm thanh quen thuộc mà thân yêu ấy cho đến ngày hôm nay và đã vĩnh viễn mất hẳn, như nhiều cái tôi đã mất trong đời. Mẹ tôi đã có lần hứa về thăm quê hương, nhưng sức khoẻ cụ không cho phép.

 

Hai giờ rưỡi sáng, tôi đạp xe đạp vào phi trường tiễn mẹ. Phi trường đêm ấy lồng lộng gió. Tiễn mẹ đi đêm ấy, tôi linh cảm thấy không bao giờ còn được gặp mẹ nữa…Dáng cụ xiêu xiêu đi vào phòng cách ly, cụ lại dúi cho tôi những đồng tiền Việt Nam còn sót lại trong túi, như hồi mấy chục năm về trước. Phi trường bây giờ mở rộng khang trang hơn trước nhiều. Vì nghĩ chẳng bao giờđược gặp mẹ nữa, nên nước mắt tôi chảy ra, tôi khóc, như hồi nào ở số 38 ngõ Hoà Mã Hà Nội ngày mẹ tôi lên đường đi tìm cha tôi ở chiến khu Việt Bắc. Ngày đó tôi cũng sợ mất mẹ như bây giờ. Ngày đó chiến tranh dữ dội, mạng sống con người không có gì bảo đảm. Quê hương tôi vậy đó.

 Đoán chừng mẹ đã đi rồi, tôi đạp xe ra khỏi phi trường, ánh đèn huỳnh quang vàng dọc theo lối đi dài sao mà buồn thế. Phi trường vẫn lộng gió. Tôi đạp xe vòng sân bay qua Ngã Tư Bẩy Hiền, xuống chợ Bà Quẹo, ngồi uống cà phê ở một quán cóc bên đường nhìn lên trời lúc gần về sáng. Tôi hy vọng rằng mẹ tôi từ trên máy bay nhìn xuống thấy quê hương, thấy Sài Gòn, thấy Biên Hoà nơi để mộ phần của bố tôi. Tôi nhỏ bằng hạt bụi trong mắt cụ không thể nhìn thấy được, nhưng cụ tưởng tượng ra đứa con của cụđứng lóng ngóng ởđâu đó trong đám chúng sinh nhỏ bé này.

 

Nhiều buổi sáng thằng con út của tôi xách cái giỏ không ra cửa sổđứng đón chờ bà nội đểđưa quần áo giặt. Nó làm vì thói quen, vì nhớ bà nội. Con chó Ki thì bỏăn, nó nằm trên cái áo rách của mẹ tôi, về sau nó già quá rồi chết. Mười năm sau mưa gió đất xói mòn, bây giờ tôi không còn biết nấm mồ nó ởđâu, chỉ biết xương nó còn trong vườn.

 Tất cả chúng con đều nhớ mẹ, bàng hoàng khi nhận được tin mẹ qua đời. Cụ thọ vào bậc nhất rồi nhưng sao tôi vẫn buồn. Cụ mất ngày 13 tháng 8 âm lịch bên Mỹ, còn hai ngày nữa là tết Trung Thu ở Việt Nam. Hôm nay ởđây tôi làm lễ phát tang cho mẹ, đúng vào ngày rằm Trung Thu, tôi e rằng trời lại mưa, như nhiều năm tôi ở miền Nam không bao giờ tôi được ngắm trăng rằm. Ở miền nam này nói đến chuyện rước đèn đêm rằm Trung Thu là chuyện hy hữu. Vì mùa này là mùa mưa bão ở miền Nam, tôi chưa thấy trăng rằm tháng Tám bao giờ trong 50 năm sống ở miền Nam. Mấy hôm nay tin khí tượng lại cho biết một cơn áp thấp nhiệt đới thổi qua đất nước tôi.

 Thế mà đêm nay trời quang mây tạnh, tôi ra vườn sau ngồi pha trà ngắm trăng rằm. Tuy không sáng không đẹp như trăng rằm Trung Thu miền Bắc mà tôi đã sống thời thơấu. Tôi nhớ những đêm rằm trung thu ở Láng, mẹ tôi bầy cỗ cho tôi được chơi trò phá cỗ, rước đèn vòng quanh sân gạch. Rồi tôi ngủ thiếp đi trong lòng mẹ, trăng rằm trung Thu sáng vằng vặc.

 

Tuổi thơấu không bao giờ trở lại với tôi nữa. Tôi muốn khóc vì nhớ mẹ, nhưng còn nước mắt nữa đâu. Một đời mẹ gầân một thế kỷ nổi trôi theo vận nước. Những đau thương này thay cho những giọt nước mắt của đứa con nay đã già.

 

Rằm tháng Tám năm Gíáp Thân

 

NGUYỄN THỤY LONG 

 

Published in Văn Học
Saturday, 12 May 2012 19:03

Xác định giá trị Quân lực VNCH

Tháng 4 đen, ngậm ngùi nhìn lại dĩ vãng.......TS LEWIS SORLEY

TRẦN ĐỖ CUNG chuyển ngữ

 

K ỳ 3

 

 

PHẦN 5 .- LAM SƠN 719

 

Rõ ràng người ta đã cho rằng chiến dịch Lam Sơn 719 vào Hạ Lào là một thảm bại cho Nam Việt. Tuy nhiên sự thật khác hẳn, vì hiện nay với băng ghi Abrams và các nguồn tin khác đã cho biết là quân Bắc Việt thiệt hại nặng khiến cho chúng mất trớn tổng tấn công miền Nam để ta có thì giờ kiện toàn Việt-Nam-Hóa-Chiến-Tranh.

 

Trong tài liệu WIEU (cập nhật hằng tuần tình báo) ngày 30 tháng Giêng ta thấy địch quân biết đôi chút về hành quân vượt biên giới của ta. Tám ngày trước khi cuộc hành quân khởi diễn, COMINT (tình báo vô tuyến) nhận thấy địch quan tâm đến các hoạt động phía ta tại vùng 1 và những khu vực lân cận Hạ Lào. Đã phát hiện các truyền tin của địch từ ngày 24 tháng Giêng để ý đến “quân ta có thể đánh qua biên giới phá trục tiếp vận của chúng”. Cũng có tin tức là địch hết sức lo cuộc đổ bộ vào Bắc Việt và sư xâm nhập Lào từ những chiến hạm ngoài khơi, vv.

Ngày 8 tháng Hai các đơn vị QLVNCH vượt biên vào Lào trên trục lộ 9 với thiết giáp, nhẩy dù, biệt động, thủy quân lục chiến và lục quân. Tổng số 10,000 quân đã nhập đất Lào vào cuối tuần. Cùng lúc, 10,600 quân tiến vào Cao Mên.

 

Khi Đô Đốc McCain Tư Lệnh Thái Bình Dương (CINPAC) dự thuyết trình ngày 19 tháng Hai thì được biết các đụng độ khá cao ở cấp Đại Đội và nhiều trận lẻ tẻ đã diễn ra trên khắp chiến trường. MACV theo rõi sáu tiểu đoàn địch đương đầu QĐVN tại Lào. Quân Đội Mỹ không được phép tham dự nhưng sư yểm trợ của không lực Mỹ đã mất 21 trực thăng trong 7,000 phi xuất (tổng số thất thoát trong chiến dịch là 108 nghĩa là 21 cho 100,000 phi xuất).

 

Trung Tướng William E. Potts của MCV J-2 đã tóm lược cho Đô Đốc McCain như sau: “Điểm đáng ghi nhận là trong chiến dịch Lam Sơn, địch quân đã đưa ra tất cả những gì chúng hiện có hoặc đang gửi đến ngoại trừ Sư Đoàn 325 và Tiểu Đoàn 9 thuộc Sư Đoàn 304. Vậy nếu chúng bị thiệt hại thì chúng sẽ tụt hậu trong một thời gian khá lâu”. Tướng Abrams nói thêm, “Lẽ cố nhiên chúng ta mong đón tất cả bọn chúng với toàn thể sức mạnh của chúng ta”. .

 

Dầu vậy, đến ngày 20 tháng Hai, nghĩa là gần hai tuần sau chỉ có sáu Trung Đoàn địch hiện diện trong chiến dịch Lam Sơn. Thuyết trình viên nói trong buổi họp chỉ huy WIEU (dự đoán tình báo hàng tuần) ngày hôm ấy là, “thật vậy sự phản công mạnh mẽ của địch đã xẩy ra đêm 18 tháng Hai. Phía ta có một lực lượng tương đương với 18 tiểu đoàn vẫn tiếp tục tìm địch thanh toán”.

 

Đại Tướng Abrams nhấn mạnh với ban Tham Mưu và các cấp chỉ huy của ông là phải cho quân Việt Nam mọi phương tiện cần thiết để họ chiến thắng trong trận hệ trọng này. “Đây là một dịp để giáng cho địch một vố ta chưa bao giờ làm được”. Ông nhấn mạnh hết sức ý nghĩa khi Hoa Thịnh Đốn đưa ra một vài chỉ trích: “Ai cũng biết cái rủi ro từ lúc đầu nhưng ta thấy là đã đến lúc phải chấp nhận rủi ro”. Khi qua Hoa Thịnh Đốn Đại Sứ Bunker đã trình bầy tất cả các khía cạnh tương quan.

 

Cho đến ngày 24 tháng Hai MACV vẫn theo dõi sáu Trung đoàn địch (tăng lên thành bẩy ba ngày sau) trong chiến dịch Hạ Lào. Trong tường trình cho Tướng Abrams, thuyết trình viên đã nói rằng bốn tiểu đoàn trong số 18 cung cấp cho Trung Đoàn địch hình như đã bị tê liệt. Cũng trong ngày ấy số tử thương của địch quân được ước lượng là 2,191 người trong khi quân bạn mất 276 mạng.

 

Đến đây thì một khó khăn lớn xẩy ra là thiếu hụt trực thăng. Mà Quốc Lộ 9, con đường chính Đông Tây có nhiều đoạn bị đào sâu lên đến cả sáu thước khiến cho việc xử dụng con lộ này hầu như bị gián đoạn. Nhất là loại bồn chở xăng không thể đi qua được. Bởi vậy phải tiếp tế bằng phi cơ, ảnh hưởng nặng nề lên đội ngũ trực thăng. Sự tính toán điều hành và sửa chữa cấp bách đã xoay lại tình thế. Cho nên khi Tướng Julian Ewell, một nhân vật không mấy thiện cảm với chiến dịch, đi thanh tra ông đã nói, “tỷ lệ sẵn sàng hành quân (operational readiness) ngày Chủ Nhật khi tôi đến thăm là 79%, một con số vượt bực”.

 

Cùng lúc địch tung ra một trận tấn công lớn với thiếp giáp và tràn ngập cứ điểm 31 là nơi trú quân của Tiểu Đoàn Bộ Đệ Nhất Sư Đoàn VNCH. Người ta đã ghi nhận địch có 350 quân bị giết và 15 thiết giáp bị phá hủy đối lại 13 quân bạn chết, 39 bị thương và ba thiết vận xa bị hư hại.

Người ta nhận thấy ngày mồng 1 tháng Ba một Trung Đoàn địch nữa đã tham chiến nâng tổng số lên tám đơn vị (trong 24 tiểu đoàn có sáu đã bị tê liệt). Đại Tướng Abrams nói, “thật là một trận khủng khiếp”. Trong buổi thuyết trình cập nhật ngày 4 tháng Ba thuyết trình viên đã nhắc lại rằng ngày 11 tháng Hai đã thấy dấu hiệu địch chuyển sang thế tấn công. Tuy nhiên sự việc chỉ xẩy ra ngày 18. Ta có thể nói là địch đã mất quân số vào khoảng bẩy tiểu đoàn chủ động, còn số thiết giáp của họ vào khoảng 100 chiếc lúc đầu thì nay chỉ còn từ 65 đến 70 chiếc mà thôi. Ở thời điểm này ta ước lượng địch quân có tại hiện trường 15,000 chiến binh cộng với từ 8,000 đến 10,000 quân hậu cần trong khi bên ta huy động mười sáu tiểu đoàn chủ động.

 

Khi một tù binh thuộc Trung Đoàn 24-B khai rõ sự tổn thất nặng nề trên đường 92 về phía Bắc Bản Đông thì phòng J-2 MACV giảm hiệu lực của địch đi hai Tiểu Đoàn, nghĩa là trong số 30 Tiểu Đoàn địch thuộc 10 Trung Đoàn tung ra trên chiến trường đương đầu với quân VN thì chúng đã mất hẳn 10 Tiểu Đoàn. Tướng Abrams nói, “Tôi càng tin chắc rằng đây có thể là trận quyết định chiến cuộc”. Tướng Potts nói thêm, “Họ mất một nửa chiến xa, một nửa đại bác phòng không và 10 trên 30 Tiểu Đoàn”.

 

Trong một buổi cập nhật tình báo hàng tuần (WIEU) ngày 20 tháng Ba Đại Sứ Bunker nói Chiến Dịch Lam Sơn đang chấm dứt là một cuộc hành quân rất thích ứng. Tướng Abrams bèn trả lời: “Thật là một trận đánh cam go. Tuy nhiên ảnh hưởng lên phần cuối năm nay hết sức to lớn. Chúng đã tung nhiều lực vào Lam Sơn và đã bị thua đậm.”

 

Ngày 23 tháng Ba khi địch quân tung vào thêm Trung Đoàn thứ mười ba, thuyết trình viên trình bầy rằng chín trong số mười một Trung Đoàn đã bị thiệt hại nặng nghĩa là họ chỉ còn khoảng 17 Tiểu Đoàn chủ động trong số 33 đem ra. Ngoài ra họ lại còn mất khoảng 3,500 đơn vị hậu cần. Khi các yếu tố dược trình bầy trong kỳ WIEU thì Tướng Potts nói thêm, “Không phải các Tiểu Đoàn ấy bị sút kém nhưng chúng đã bị hoàn toàn tiêu diệt”.

 

Quân đội VNCH cũng chịu nhiều tổn thất, 1,416 bị giết và 714 mất tích. Nhiều khí cụ đã bị phá hủy hay bỏ lại khi vội vã rút lui. Khi xét lại kết quả, Đại Tướng Sutherland nhận định như sau: “Khuyết điểm từ lâu là Bộ Tham Mưu VN không có đủ khả năng thiết kế và phối hợp Không Lực cũng như phối hợp yểm trợ không địa. Tuy nhiên họ đã học hỏi nhiều trong chiến dịch này.”

Quần chúng hết sức ủng hộ trận Lam Sơn. Khi Đức Ông Thompson tới viếng thăm hồi cuối tháng Ba người ta đã trình bầy với ông kết quả cuộc thăm dò dư luận trong 36 tỉnh. Kết quả cho thấy 92% đồng ý với các chiến dịch như Lam Sơn 719, 3% chống đối và phần còn lại không có ý kiến. Kết quả cho thấy một phân xuất rất cao so với bất cứ lần thăm dò về bất cứ một vấn đề gì trước đây.

 

QLVNCH đã chiến đấu trong 42 ngày liền tại Lào. MACV trình bầy khiêm tốn cho Bộ Trưởng Lục Quân Stanley Resor là Chiến Dịch Hạ Lào đã “thử thách QLVNCH trước một địch quân quyết tâm trong trận địa xuyên biên giới. Chắc chắn là đã phá được đường tiếp vận của họ”. Ở Hoa Kỳ người ta kêu đó là một thảm bại của quân Việt. Lẽ cố nhiên bộ máy tuyên truyền Hà Nội vội vã túm lấy cơ hội.

 

Tuy nhiên Tướng Abrams nhận định là chiến dịch nhất định có lợi cho QLVNCH. “Từ trước ta cứ tưởng rằng Bắc Việt có thể chiến thắng họ. Chiến tranh chưa chấm dứt nhưng Bắc Việt bắt đầu thấy là họ phải đương đầu với một công việc khó hơn nhiều”.

 

PHẦN 6 .- MỘT CUỘC CHIẾN THẮNG LỢI

 

Phương pháp áp dụng trong giai đoạn Abrams đã có kết quả tốt mặc dầu nhiều người không tin như vậy. Quân Mỹ đã lần hồi rút nên quân Việt đạt nhiều thành quả hơn. Vì chiếm được nhiều đất hơn nên đã thấy nhiều lính địch quy thuận hơn. Trong năm 1969 có 47,000 hàng binh cọng thêm 37,000 hồi chánh năm 1970. Mỗi Sư Đoàn Bắc Quân có 8,689 quân số. Như vậy thì số đào ngũ của họ trong hai năm bằng chín Sư Đoàn. Đã đến chiến thắng mặc dầu vẫn phải đánh nhau là vì Nam Việt đã đủ khả năng giữ vững chủ quyền và tự lực hành động với lời hứa yểm trợ của Hoa Kỳ như họ vẫn làm cho đồng minh tại Tây Đức và Nam Hàn.

 

Ngay từ cuối năm 1969 John Paul Vann, một nhân vật chính của chương trình bình định đã viết cho cựu Đại Sứ Henri Cabot Lodge như sau: “Tôi không cần thăm Hoa Thịnh Đốn hay Ba Lê như trước để tìm cách thay đổi chính sách Việt Nam. Tôi hài lòng với chính sách hiện hữu. Tôi nghĩ rằng chúng ta đã đạt mục tiêu bỏ được số Mỹ tử vong sau 1972 và chiến phí (cuộc chiến sẽ còn kéo dài mãi) sẽ giảm hẳn vì được người Việt lo liệu với sự trợ giúp tiếp vận và tài chính của chúng ta.”

 

Ngoài trách nhiệm chiến đấu thay vào quân Mỹ rút đi, Nam Việt còn phải đương đầu với nhiều thay đổi chính sách. Đại Tướng Abrams nói rõ là họ phải vượt qua các trở ngại mỗi ngày một khó hơn. Ông nhắc lại, “Chúng ta đã bắt đầu từ năm 1968. Mục tiêu của chúng ta là đến 1974 họ phải quất nặng bọn VC để sau nữa sẽ đập cả bọn Việt Cộng lẫn quân Bắc Cộng tại miền Nam. Rồi họ phải nén chặt chúng lại, nén ba bốn lần. Như vậy chúng ta bắt đầu; trong một thời gian dài – ông ra dấu bằng tay – và phải kết thúc trong thời gian ngắn hơn nhiều.”

 

“Và nếu cần truy cản Việt Cộng, Bắc Cộng hay giúp Cao Mên chẳng hạn thì chúng ta cũng giúp tay vào. Tuy nhiên chúng ta cần hết sức cẩn thận không có sẽ bị trật đường rầy. Ta tránh làm như vậy vì nó sẽ làm cho ta điên lên.” Sự thay đổi đường lối quan trọng nhất là loại bỏ dự tính giữ lại một lực lượng Mỹ lâu dài tại chỗ như thể ở Tây Âu hay Nam Hàn.

 

Ông Thomas J. Barnes trở lại Việt Nam sau ba năm vắng mặt để làm việc trong chương trình bình định vào mùa Thu 1971. Ông nói với Tướng Fred Weyand là “tôi đã ngạc nhiên với ba tiến bộ chính, sự phồn thịnh của nông thôn, Địa Phương và Nghĩa Quân giữ vững vị trí và phát triển sự tự trị chính trị kinh tế làng xã. Ta đã giúp làng xã lấy lại tính cách độc lập và tự lực theo tập tục Việt Nam . Đó là việc tham gia quan trọng nhất của chúng ta trong công việc bình định”.

 

Ngay từ giữa tháng Ba 1971 quân đội Việt Nam đã gánh vác chiến đấu. Thuyết trình viên đã nói với Đại Tướng Ewell rằng sự chú trọng của Tướng Abrams vào công tác bình định nay đã hầu như thành tựu 100% với các kế hoạch tương quan. Quân Mỹ đã gần như rời khỏi việc hành quân”.

 

Những tin tức từ phía địch đã xác nhận thành quả. Trong một cuốn sách in bởi nhà Xuất Bản Thế Giới Hà Nôi, hai tác giả Lưu Văn Lợi và Nguyễn Anh Võ đã viết, “cuối năm 1968 trong Nam Bộ các Ấp Chiến Đấu và những vùng xôi đậu đã bị quân đội Sài Gòn chiếm lại. Cuối 1968 chúng ta đã bị tổn thất nặng. Địch dồn lực lượng vào công tác bình định thôn quê gây cho chúng ta nhiều khó khăn trong hai năm 1969-1970. Từ khi quân Mỹ vào Việt Nam chúng ta chưa bao giờ gập nhiều vấn nạn như trong hai năm ấy. Các căn cứ của ta ở thôn quê bị suy nhược và vị trí co thắt lại. Quân ta bị tiêu diệt, không còn đất bám và phải qua đồn trú tại Cao Mên. Chúng ta trải qua một thời kỳ hết sức khó khăn trong những năm 1969-1970-1971. Kể từ giữa năm 1968 địch đã tập trung đánh phá các vùng giải phóng để tiêu diệt và đẩy chúng ta ra khỏi cứ địa.”

 

Tháng Giêng 1972 Vann nói rằng “chưa bao giờ chúng ta phải tham chiến ít như bây giờ. Ngày nay thấy rõ các vùng quê phồn thịnh, đường xá khai thông, cầu kỳ mở lại và bạn có nhiều rủi ro hơn với cả đống Honda và Lambretta ngược xuôi. Chương trình Việt Nam Hóa Chiến Tranh đã có kết quả ngoài tưởng tượng”. Đó là công đầu của Việt Nam Cộng Hòa.(Xem tiếp kỳ 04)

 
Published in Diễn đàn

TRẦN ĐÌNH TUẤN

Gửi cho Việt Tribune

 

 

Trong thời gian ba chiến hạm thuộc hạm đội 7 thuỷ quân Mỹ thăm Việt Nam từ ngày 23-4  đến ngày 28-4 vừa qua, ngoài những hoạt động bình thường như diễn tập cứu hộ, thể thao, văn nghệ… các binh sĩ trên hai chiến hạm Blue Ridge và Safeguard bỏ neo tại cảng Tiên Sa, Đà Nẵng, còn có một hoạt động đáng chú ý: cuối mỗi buổi chiều họ đều cử người dàn hàng ngang nhặt rác sạch sẽ và triệt để (họ nhặt cả những mẩu thuốc lá bé xíu) trên cầu cảng nơi họ neo tầu. Đây không phải hành vi của một vài cá nhân mà là hành vi tập thể, được tổ chức hẳn hoi, và diễn ra đều đặn trong suốt những ngày họ ở thăm nước ta. Ý nghĩa của nó như thế nào? Nếu một người khách đến thăm chúng ta mà lấy chổi ra quét nhà, chúng ta có thể nghĩ theo hai hướng sau:

 

1)   Khách này …mất dạy, đến chơi nhà người ta mà mang chổi ra quét nhà, bộ chê nhà tao bẩn sao? Nhà tao từ thượng cổ đến giờ như vậy đó, ai khiến mày quét?!

 

2)   Khách này là bạn tốt, vấn đề xả rác bừa bãi đối với chúng ta có thể chưa quan trọng lắm nhưng đối với họ có lẽ là một vấn đề rất quan trọng, chính vì vậy họ đã dám làm một điều có thể dễ mất lòng chúng ta, là người họ đang muốn có mối quan hệ tốt. Họ thực sự muốn chia xẻ với chúng ta một bài học mà bản thân họ đã học được trước chúng ta hơn một trăm năm (hơn một trăm năm trước đây họ, cũng như tất cả các dân tộc khác trên thế giới, kể cả người Nhật, người Sing, người Hàn, người Đức, người Anh, người Pháp… cũng đều xả rác, đều đái đường như chúng ta). Rõ ràng họ thấy hành vi xả rác quá lạc hậu của chúng ta không xứng đáng với phẩm giá con người Việt Nam mà họ tôn trọng và quý mến.  

 

Từ hai hướng suy nghĩ trên, chúng ta có thể có những phản ứng như sau:

 

1)  Tức, chửi thề, không làm gì khác thêm (ngoại trừ tuyên truyền vận động chung chung, hàng năm tổ chức mùa hè xanh sạch đẹp…) để đối phó với hành vi xả rác bừa bãi mà người Việt chúng ta vẫn còn duy trì từ thời ăn lông ở lỗ.

 

2)  Phớt lờ, không làm gì khác thêm, vì “Người mình kém ý thức làm sao so được với người Nhật, người Mỹ, người Sing…”

 

3)  Xấu hổ, cắn răng chấp nhận, cám ơn bạn đã cho chúng tôi một bài học quý. Sau đó huy động ý chí và sức mạnh của toàn dân vào một cuộc vận động tích cực và triệt để nhằm chấm dứt vĩnh viễn thói quen cực kỳ lạc hậu xả rác bừa bãi của người Việt chúng ta.

 

Trong ba hành vi kể trên, hành vi thứ nhất là hành vi của Chí Phèo trong văn hóa Việt, nghĩa là của những người thua cuộc (losers) trong văn hóa Mỹ. 

Hành vi thứ hai là hành vi của những người mang nặng mặc cảm nô lệ, tự đánh giá hoàn toàn sai về giá trị và tiềm năng của con người Việt Nam.

Hành vi thứ ba là hành vi can đảm, cao thượng, và bản lĩnh, thể hiện đầy đủ cá tính và phong cách con người Việt Nam qua truyền thống văn hóa lâu đời của chúng ta. Sau đây là cách cụ thể để thực hiện hành vi can đảm, cao thượng và bản lĩnh này:

 

Từ mấy chục năm nay chính quyền địa phương các cấp đã bỏ ra rất nhiều công của để tuyên truyền vận động quần chúng không xả rác bừa bãi; hàng năm chúng ta đều huy động các đoàn thể thanh niên, sinh viên, học sinh vào các chiến dịch “Mùa hè xanh sạch đẹp”. Các nước phát triển cũng làm những việc này, tuy nhiên họ khác ta ở một điểm quan trọng: bên cạnh công tác tuyên truyền vận động kể trên, họ tích cực và nghiêm khắc thực thi luật cấm xả rác. Ở Singapore, dù rác là một mẩu thuốc lá, người vi phạm bị bắt quả tang cũng có thể bị phạt tiền thật nặng và phải mặc áo tù đi làm vệ sinh hàng trăm giờ nơi công cộng. Đây không phải là sáng kiến của Singapore, các nước Mỹ, Đức, Nhật… đã làm như vậy trước Singapore gần một thế kỷ.

 

Việt Nam chúng ta cũng có luật Vệ sinh môi trường cấm xả rác nơi công cộng. Vấn đề là chúng ta chỉ cần thực thi luật này một cách nghiêm chỉnh và rốt ráo. Nghiêm chỉnh và rốt ráo có nghĩa là một mảnh giấy gói kẹo, một cái tăm, một mẩu thuốc lá cũng là rác; khăn giấy chùi miệng là miếng rác quá lớn, cần phạt thật nặng những chủ tiệm ăn đã để cho thực khách vất khăn giấy xuống nền nhà. Đây là cách các quốc gia phát triển trước chúng ta đã nghĩ ra: họ không thể phạt từng cá nhân khách trong các tiệm ăn, họ chỉ cần phạt thật nặng chủ tiệm, buộc chủ tiệm phải tự nghĩ ra các giải pháp để khách không tiếp tục xả rác nhè xương xuống nền nhà một cách vô văn hoá như từ bấy lâu nay. Giải pháp này cũng buộc các chủ tiệm không được duy trì tập quán lạc hậu: ban ngày tha hồ cho khách xả rác, tối quét sau. Tập quán này cũng giống như một cô gái đẹp ban ngày ra đường tiếp xúc với mọi người thì ăn mặc lôi thôi lếch thếch, mặt mũi tèm lem; tối về nhà trước khi đi ngủ mới lo tắm rửa, thay quần áo đẹp và điểm phấn tô son!

 

Việc xóa bỏ thói quen xả rác bừa bãi là việc không dễ, nhưng cũng không phải là quá khó đến nỗi không thể làm được. Có ba vấn đề quan trọng cốt lõi ở đây:

Vấn đề quan trọng nhất là quyết tâm cao độ của chính quyền các cấp và của toàn dân. Quyết tâm phải ở mức độ cao nhất, nghĩa là tương đương với quyết tâm đánh giặc. Chỉ khi nào chúng ta quyết tâm đánh giặc lạc hậu này, không cho nó tiếp tục kìm hãm dân ta vào vòng chậm tiến, chúng ta mới có khả năng thành công và chen chân được vào hàng ngũ những dân tộc phát triển trên thế giới.

 

Vấn đề quan trọng thứ nhì là triệt để xóa bỏ tư tưởng nô lệ chủ bại kiểu “Người mình kém ý thức”. Các dân tộc đều khởi đầu kém ý thức như nhau. Không có dân tộc nào từ thuở hồng hoang đã biết phân biệt đất nước hồ ao sông suối và cái thùng rác. Người ta vượt qua được thói xấu này thì chúng ta cũng vượt qua được.

 

Vấn đề quan trọng thứ ba là bên cạnh công tác tuyên truyền gíao dục, vận động, phải có các biện pháp chế tài nghiêm khắc và rốt ráo. Điều này đã được chứng minh cả trên lý thuyết tâm lý học (thuyết Nhận thức hành vi/Cognitive behavioral theory) lẫn trong thực tế ở Việt Nam. Thuyết Nhận thức hành vi đã chỉ ra cách hay nhất giúp con người thay đổi hành vi là giáo dục kèm theo trừng phạt. Giáo dục không kèm theo trừng phạt là giáo dục chung chung; trừng phạt không đi kèm giáo dục sẽ không mang lại kết quả lâu dài. Thực tế Việt Nam đã nhiều lần chứng minh lý thuyết này: xóa nạn mù chữ năm 1945, toàn dân đội mũ bảo hiểm năm 2007…   

 

Tóm lại nếu chính quyền có quyết tâm lãnh đạo, nhân dân Việt Nam dứt khoát sẽ thoát được tập quán lac hậu xả rác bừa bãi. Cuộc đấu tranh này khó nhưng còn dễ hơn nhiều so với các cuộc đấu tranh khác mà chúng ta đã vượt qua trong lịch sử. Ngoài ra, chúng ta chỉ cần làm kiên quyết và rốt ráo trong một thời gian (có thể 6 tháng), khi quần chúng đã tập được thói quen mới, cơ chế dân chủ tự quản sẽ phát sinh và thói xấu lạc hậu sẽ không còn chỗ tồn tại vì đại đa số quần chúng không chấp nhận. Thói xấu xả rác bừa bãi chắc chắn một ngày kia sẽ được xoá sổ ở nước ta, đấy là chân lý. Câu hỏi là nhân vật lãnh đạo nào, thành phố nào trên đất nước ta sẽ giành được lá cờ đầu và được lịch sử vinh danh. Đây sẽ là một trang sử vinh quang, một cột mốc quan trọng trong lịch sử phát triển của dân tộc Việt Nam.[TĐT]   

Published in Diễn đàn

 

Vòng đấu cuối cùng của giải ngoại hạng Anh được xem là hấp dẫn nhất trong các giải đấu hàng đầu Âu châu hiện tại bởi lúc này cuộc đua giành ngôi vô địch, giành vé tham dự cúp Champions League mùa sau hay cuộc chiến chống xuống hạng vẫn đang diễn ra rất kịch tính. Hãy cùng đưa ra một vài dự đoán về thứ tự và vị trí của các đội bóng ở lượt trận vòng 38 này.

    

Câu lạc bộ Manchester City đang nắm trong tay cơ hội lớn để vô địch bóng tròn Anh quốc sau 44 năm chờ đợi, và sẽ rất khó để họ bỏ lỡ cơ hội này. Được thi đấu trên sân nhà, chỉ phải gặp đối thủ ở nhóm cuối Bảng xếp hạng là QPR, cộng với một dàn ngôi sao đang hừng hực khí thế và quyết tâm đăng quang ngay trước mặt hàng chục ngàn khán giả nhà, Man City đang có quá nhiều lợi thế để có thể giành trọn vẹn 3 điểm ở lượt đấu cuối cùng này. Thậm chí nhiều người còn đang tưởng tượng ra cảnh Man City sẽ “thảm sát” QPR, giống cái cách mà Chelsea đã làm trước Wigan ở mùa giải 2009/2010 để tô điểm thêm cho chức vô địch. Phong độ của Man xanh 5 trận gần đây là rất tốt với 5 chiến thắng liên tiếp và có thể họ sẽ kết thúc một mùa giải thành công với chiến thắng thứ 28 cả mùa và là chiến thắng thứ 18 trên sân nhà.

    

Dù đang bằng điểm với Man City nhưng Manchester United, tức MU, không còn nắm trong tay quyền tự quyết. Họ sẽ buộc phải thắng ở chuyến làm khách trước Sunderland đồng thời hy vọng Man City sảy chân. Nhưng sẽ rất khó để cả 2 điều kiện có thể xảy ra cùng lúc. MU sẽ chỉ còn biết tự trách chính mình bị đẩy vào thế khó như hiện tại. Đã có lúc họ hơn đối thủ tới 8 điểm nhưng rồi những lần mất điểm đáng tiếc trước Wigan, trước Blackburn đã khiến họ phải trả giá. Sẽ là một mùa giải thất bại toàn tập cho MU nhưng xem ra đó cũng là điều cần thiết để họ tiến hành cải tổ một cách mạnh mẽ cho sự trở lại vào năm sau.

    

Về các đội hy vọng 

góp mặt tại đấu trường Âu châu 

mùa giải sau:

    

Căn cứ vị trí trên Bảng xếp hạng hiện tại, 2 đội đang nắm lợi thế là Arsenal và Tottenham. Ở lượt cuối đối thủ của 2 đội này sẽ lần lượt là West Brom và Fulham. 2 đội bóng này đều là những đội đã không còn mục tiêu nào để phấn đấu và sẽ không có gì là bất ngờ nếu như hai đại diện thành Luân đôn giành trọn vẹn 3 điểm để củng cố vị trí thứ 3 và thứ tư của mình. Sự gay cấn của cuộc đua giành vé dự Cúp Champions League này sẽ càng thêm hấp dẫn với sự tham gia của “kẻ ngoài cuộc” là Chelsea (đứng thứ 6) nhưng lại đang de dọa lớn tới đội bóng nào chỉ giành được vị trí thứ tư, bởi nếu vô địch cúp Champions League trên sân Allianz Arsena, Chelsea mới là đội giành vé dự Cúp mùa sau. Chính vì vậy, cả Arsenal và Tottenham sẽ phải chiến hết mình ở vòng cuối để không bị rơi xuống vị trí thứ tư “nguy hiểm”. Nhưng theo ý kiến chủ quan của nhiều người, sẽ rất khó để Chelsea làm nên chuyện trước Bayern và 2 vé dự Champions League còn lại sẽ thuộc về Arsenal và Tottenham. 

   

Về các vé 

dự cúp Europa League:

    

Liverpool đã vô địch Carling Cup thế nên họ sẽ chắc 1 vé dự Europa League. Newcastle dù không lọt được vào top Four nhưng với vị trí thứ 5 trên Bảng xếp hạng cũng được xem là một thành công với “Chích chòe”. Còn Chelsea, như đã dự đoán ở trên, họ sẽ thua trận ở Chung kết cúp Champions League và chỉ có được một chiếc cúp FA an ủi và đành tạm hài lòng với một vé dự Europa League mùa sau.

    Còn nhóm xuống hạng thì sao? 

    Wolves và Blackburn đã chắc vé xuống hạng, vé còn lại sẽ là cuộc cạnh tranh giữa QPR (37 điểm) và Bolton (35 điểm). Theo như đã nói ở trên, có thể QPR sẽ trắng tay tại Etihad trước Man City, và cơ hội sẽ mở ra cho Bolton nếu họ thắng được Stoke City. Tuy nhiên nhiệm vụ đó sẽ là rất khó khăn bởi làm khách tại Britania của Stoke chưa bao giờ là nhiệm vụ dễ dàng ngay cả với các đội bóng lớn. Vì vậy, có lẽ Bolton sẽ cùng lắm chỉ là có được 1 trận hòa trước Stoke và đành ngậm ngùi chia tay với giải ngoại hạng.

    Với những ai yêu mến sự kịch tính, bất ngờ và hấp dẫn, họ sẽ luôn trông mong vào những cái kết không ngờ nhất. Và liệu có một cú sốc nào diễn ra để khiến vòng 38 giải Ngọai hạng Anh trở thành một trong những vòng đấu đáng nhớ nhất. Liệu một QPR cũng đang cần một điểm số an toàn để trụ hạng có thể gây nên chấn động trước một Man City đang hừng hực khí thế. Hay liệu cả Arsenal và Tottenham có đồng loạt vấp ngã để Newcastle vươn lên giành vé dự cúp Champions League? Trong bóng tròn không có gì là không thể, và mọi chuyện chỉ rõ ràng khi các trận đấu đã kết thúc. Tất cả đã và đang góp phần tạo nên lượt đấu cuối cùng đáng xem nhất trong lịch sử kể từ khi giải ngoại hạng ra đời!

 

 

Chelsea tiết lộ kế hoạch 

du đấu tại Hoa Kỳ

 

Mùa giải bóng tròn năm nay tại Anh quốc sắp kết thúc và để chuẩn bị cho mùa giải tới, giới chức điều hành câu lạc bộ Chelsea vừa thông báo kế hoạch du đấu  xuyên Đại Tây Dương khi họ sẽ chạm trán hội PSG của Pháp, AC Milan của Ý, Seattle Sounders của Mỹ và tội tuyển ngôi sao MLS tại Hoa Kỳ. 

    Theo đó, trong trận đấu tại New York vào ngày 22 tháng 7 tới, Chelsea sẽ chạm trán đội bóng của "người cũ" Carlo Ancelotti trên sân Yankee tại New York với sức chứa 54 ngàn khán giả.

    Đây cũng là cơ hội để các cầu thủ Chelsea gặp lại cựu tiền vệ Claude Makelele, bây giờ đang làm phụ tá cho huấn luyện viên Ancelotti và cựu thuyền trưởng Paul Clement cùng trung vệ người Ba tây là Alex, người đã rời Stamford Birdge vào mùa Đông vừa qua.

    Giám đốc điều hành Ron Gourlay khẳng định trên website chính thức của câu lạc bộ như sau: "Chelsea đang rất phấn khởi với chuyến hành quân sang New York và chúng tôi sẽ rất hài lòng khi được đến sân Yankee để thi đấu những trận đấu rất hấp dẫn".

    Trận đấu này là trận đấu thứ nhì trong lịch trình đến Hoa Kỳ của Chelsea. Trước đó họ sẽ phải chạm trán Seattle Sounders trên sân CenturyLink Field vào ngày 18 tháng 7 và sau đó là MLS All-Star trên sân PPL Park vào ngày 25 tháng 7 và cuối cùng là đụng độ câu lạc bộ của Pháp quốc trên sân Sun Life Stadium, ở thành phố Miami, vào ngày 28 tháng 7.

 

 

Barca nhận giải 

câu lạc bộ hay nhất thập niên

 

Liên đoàn thống kê và lịch sử bóng tròn quốc tế (gọi tắt la 2IFFHS) trao cho đội bóng xứ Catalan 7 danh hiệu quan trọng, ngay tại Barcelona tối thứ Hai.

    Hai trong số các danh hiệu Barca nhận được có giải “Câu lạc bộ Âu châu hay nhất thập niên từ năm 2001 đến năm 2010” và “Câu lạc bộ hay nhất thập niên”.

    Từ năm 2001 đến 2010, đại gia xứ Catalan giành được 2 chức vô địch Âu châu Champions League, 1 FIFA Club World Cup, 1 Super Cup Âu châu, 4 La Liga, 1 Cup Quốc vương và 3 Super Cup Tây Ban Nha.

    Danh hiệu Câu lạc bộ hay nhất năm 2011 cũng thuộc về Barcelona. Năm ngoái, thầy trò huấn luyện viên Pep Guardiola giành được 5 chức vô địch gồm Champions League, FIFA Club World Cup, La Liga, Super Cup Âu châu và Super Cup Tây Ban Nha.

    Bên cạnh các danh hiệu cấp Câu lạc bộ, IFFHS còn vinh danh Barcelona qua các giải thưởng cá nhân. Xavi nhận được danh hiệu “Tiền vệ kiến thiết hay nhất năm 2011”, xếp ngay trên đồng đội Lionel Messi. Bù đắp cho “thất bại” trước tiền vệ đội phó, tiền đạo người Argentina giành danh hiệu “Cầu thủ ghi bàn hay nhất năm”. Guardiola nhận danh hiệu “huấn luyện viên cấp Câu lạc bộ hay nhất năm 2011”, xếp ngay trên Jose Mourinho.

 

Federer suýt khóc hận, 

Nadal khẳng định sức mạnh

 

Tay vợt Roger Federer suýt chút nữa đã sớm nói lời chia tay giải Madrid Masters, khi phải ngược dòng nhọc nhằn 4-6, 7-5 và 7-6 trước Milos Raonic. Trong khi Rafael Nadal đã đưa ra lời thách thức tất cả bằng chiến thắng mau chóng sau 2 set cùng tỷ số 6-2 trước Nikolay Davydenko.

    Ra quân trong sự tự tin cao độ, “tàu tốc hành” người Thụy Sĩ rất muốn có được một chiến thắng ấn tượng để đánh dấu sự trở lại sau quãng thời gian dài xa sân đấu và hướng đến việc trở lại ngôi số 1, như anh đã tuyên bố trước khi giải đấu diễn ra.

    Tuy nhiên, trước một tay vợt đang lên như “diều gặp gió” Raonic, tay vợt số 3 thế giới đã gặp không ít khó khăn. Thậm chí nếu như may mắn hơn, người giành phần thắng là Raonic chứ không phải là Federer.

    Bằng những cú giao bóng ăn điểm trực tiếp đầy uy lực, Raonic đã xuất sắc giành chiến thắng 6-4 ở set đấu thứ nhất.

    Sang set 2, sự hưng phấn của tay vợt trẻ người Canada tiếp tục khiến “tàu tốc hành” phải lao đao. Tuy nhiên, với bản lĩnh của một tay vợt từng giành đến 16 danh hiệu Grand Slam, Federer đã đưa ra lời đáp đầy mạnh mẽ để đưa trận đấu về vạch xuất phát sau 2 set với chiến thắng 7-5.

    Ở set đấu quyết định, hai tay vợt tiếp tục giằng co nhau từng điểm, để rồi đưa set đấu bước vào loạt tie-break để phân định thắng thua. Trong loạt “đấu súng” đầy căng thẳng, Federer đã giành chiến thắng 7-4, qua đó ghi tên mình vào vòng 3 Madrid Masters.

    Ở vòng đấu tiếp theo, tay vợt số ba thế giới sẽ đối đầu với Richard Gasquet, tay vợt được xếp số 14 người Pháp này đã có sự khởi đầu tương đối nhàn hạ bằng chiến thắng 7-5, 6-3 trước Viktor Troicki của Serbia.

    Nếu như Federer nhọc nhằn giành vé đi tiếp sau màn ngược dòng thì Rafael Nadal đã sớm khẳng định sức mạnh đồng thời đưa ra lời thách thức tất cả các tay vợt bằng chiến thắng mau chóng sau 2 set cùng với tỷ số 6-2 trước Nikolay Davydenko.

    Tại vòng 3, đối thủ của “ông vua sân đất nện” sẽ là người đồng hương Fernando Verdasco. 

    Trong khi đó, ở giải đơn nữ, nhà đương kim vô địch Wimbledon Petra Kvitova tiếp tục gây thất vọng lớn cho người hâm mộ khi cô để cho tay vợt đồng hương hạng 105 thế giới Lucie Hradecka vượt qua với tỷ số 6-4, 6-3.

    Trái ngược với Kvitova, Victoria Azarenka, Samantha Stosur hay Li Na đã thi đấu khá xuất sắc để ghi tên mình vào vòng tứ kết. Ở vòng đấu giành cho 8 tay vợt xuất sắc nhất, Azarenka sẽ phải đối đầu với Li Na.[THS]

 
Published in Thể thao
Saturday, 12 May 2012 18:42

27 năm Ra Khơi

 

 

 

Ngày Song Thân

     

Tháng này ở Hoa Kỳ là ngày của Mẹ. Tháng tới Mỹ chợt nhớ tới người đàn ông nên có ngày của Cha. Liên đoàn hướng đạo Ra Khơi ở San Jose muốn cho chắc ăn đã tổ chức ngày cha mẹ vào tháng 4. Chữ nghĩa văn chương gọi là ngày Song Thân. Lần lượt cha mẹ các em hướng đạo lên sân khấu đứng chờ. Từ phụ huynh của chim non cho đến cha mẹ các tráng niên. Các em nhận đóa hoa hồng rồi cứ tìm cha mẹ nhà ta mà trao tặng. Mẹ xoa đầu con trai. Con gái nép vào người ông bố. Những máy hình lách cách. Những giọt lệ rưng rưng. Rồi sau cùng các ông bà của hướng đạo cũng lên sân khấu. Đến lượt phụ huynh trao hoa. Ba thế hệ ôm nhau. Tha hồ quay phim chụp hình.

     

Đứa cháu gái của chúng tôi là chim non mới được vài tháng. Khi MC mời cha mẹ của các bạn nhỏ lên sân khấu mà cháu chưa thấy mẹ lên. Cô bé cuống quít chạy lại nói rằng họ gọi mẹ lên kìa. Nếu mẹ không lên thì cô bé cầm hoa hồng biết đưa cho ai. Khóc là cái chắc. Một phụ huynh Việt Nam nói rằng, cho cháu đi hướng đạo chỉ mong cháu đừng hư là may rồi. Thực sự chẳng đứa nào thích đi học Việt ngữ hay sinh hoạt hướng đạo. Nhưng đưa chúng nó vào nề nếp là bổn phận của cha mẹ. Mặc cho cháu bộ đồ hướng đạo là đã đi được quá nửa con đường giáo dục. Câu đó là các tay tổ hướng đạo nói đấy nhé. Tay tổ là ai.

 

Baden Powell

     

Từ thuở xa xưa, bên Anh quốc có huân tước Powell đã bày ra một trò chơi lớn mở đường cho nhân loại. Năm 1907 phong trào hướng đạo ra đời và ngày nay là một tôn giáo của thanh thiếu niên toàn thế giới. Hết sức nhân bản, phi chính trị, phi tôn giáo và phi sắc tộc. Trò chơi mà giải quyết cả hướng đi của nhân loại. Trụ sở quốc tế hiện nay ở Thụy sĩ, nhưng phong trào có mặt khắp nơi. Tại Hoa kỳ bắt đầu năm 1910. Hai  mươi năm sau, vào năm 1930 bắt đầu phong trào hướng đạo Việt Nam. Các cụ hướng đạo cao niên Việt Nam ngày nay vẫn còn xuất hiện tại San Jose. Luôn luôn Sắp Sẵn. Lúc nào cũng có thể lên đường. Thực vậy. Hướng đạo một ngày. Hướng đạo một đời. Không còn gì đẹp đẽ hơn.

      

Con người khai sinh ra phong trào hướng đạo, ông tổ Baden không phải chỉ sinh ra một tổ chức mà ông đã mở ra cả một con đường lý tưởng cho nhân loại. Học thắt nút để trở nên tháo vát nhưng học được tinh hoa hướng đạo là học làm người.

 

Hướng đạo Việt tại San Jose

      

Cuối năm 1976, mấy gia đình Việt Nam pinic tại Park Alum Rock San Jose đã bắt đầu thành lập nhóm hướng đạo di tản. Lúc này phong trào hướng đạo Việt Nam tại quê nhà đã tan hàng theo với 30 tháng 4. Phát xít, độc tài, cộng sản là không chơi trò hướng đạo. Hướng đạo tại Việt Nam nếu còn lai rai phải là hướng đạo chui. Phong trào hướng đạo làm lại phải phát động tại hải ngoại. Và có mặt ngay từ cuối năm 76 tại San Jose. Cậu bé Phạm Lưu chụp hình lễ tuyên thệ lần đầu ngày nay đã là thầy đội cảnh sát San Jose.

     

Những đứa trẻ tỵ nạn ngày xưa chơi với nhau bây giờ người thì trở thành cảnh sát. Có cậu trở thành chánh án như ông Thắng. Có cậu trở thành chánh xứ họ đạo Berryessa như cha Phan Quang Cường.

     

Tất cả đều lớn lên cùng xã hội và đất nước. Phong trào hướng đạo Việt tại San Jose cũng thế. Từ mấy đứa chạy vòng vòng tại Park Alum Rock thời cuối 70, bây giờ Việt Nam ta có đến 13 liên đoàn. Mỗi liên đoàn trên dưới 100 em thì tính ra đã có đến 1,500 hướng đạo cả nam và nữ. Các liên đoàn họp lại thành hội đồng hướng đạo. Tất cả đều ghi danh với hướng đạo Hoa kỳ. Có hiệu kỳ, có danh số. Có trên có dưới, có nam có nữ, có thách đố, có thi đua nhưng không hề tranh chấp. Tất cả 13 liên đoàn rất tự nhiên mà chia quận hạt Santa Clara thành nhiều lãnh thổ. Có đoàn chiếm ngự vùng Milpitas. Có đoàn hành quân ở Cupertino. Nhiều đoàn sinh hoạt tại San Jose.

     

Sự phát triển của hướng đạo Việt tại quận hạt Santa Clara thực sự là điều ngạc nhiên đối với phong trào hướng đạo tại Mỹ. Các đoàn hướng đạo Nhựt, Tàu, Mễ, Phi đều không náo nhiệt đông đảo. Chỉ có hướng đạo An Nam là đông nhất. Không phải là các em từ VN mới qua. Toàn là các em đẻ ở Mỹ không. Các trưởng giảng bằng tiếng Việt, tiếng Mỹ nhưng các đoàn viên thì nói toàn tiếng Anh. Cứ như là ngôn ngữ trong nhà. Bố mẹ phát ngôn tiếng Việt. Con hiểu nhưng chỉ trả lời tiếng Mỹ. Đó mới thực là song ngữ.

 

Ra khơi, 

biết mặt trùng dương

      

Trong số 13 đoàn hướng đạo Việt Nam thì chúng tôi có 2 đứa cháu trong liên đoàn Ra Khơi. Tại sao lại Ra Khơi mà không phải liên đoàn nào khác. Chẳng có lý do gì thâm sâu. Chỉ là thuận tiện mà thôi. Nhà gần chỗ nào thì ra chơi chỗ đó.

      

Trong ngày song thân, bà con thấy có một anh chàng xem chừng là người trách nhiệm chính. Suốt cả buổi Trần Hoàng Thân lo chạy giây âm thanh và ánh sáng. Sắp xếp chương trình. Chỉnh lại các micro và bộ loa. Kiểm soát các màn kéo. Rồi thì cũng chính chàng tuyên bố lý do, đọc diễn văn khai mạc, sau cùng là cảm ơn. Thật ngắn gọn. Giữa chương trình, Trần Hoàng Thân còn chạy đến khu giải khát pha thêm nước cam.

       

Nếu gọi anh là liên đoàn trưởng cũng vẫn đúng, nhưng phần chính có thể coi như trưởng ban âm thanh và tạp dịch.

       

Trên web của Ra Khơi thì tên liên đoàn trưởng là Phan Kim Trinh. Tôi hỏi Thân. Phan Kim Trinh là anh chàng nào. Thân nói rằng: Anh chàng này hiện nay chính danh liên đoàn trưởng là vợ cháu. Cô cũng đi hướng đạo Ra Khơi từ đầu. Bây giờ là vai chính để làm việc. Cháu rút về nội trợ cho liên đoàn.

       

Lại hỏi rằng. Tại sao lại Ra Khơi? Ra Khơi từ bao giờ? Đã đến bến nào chưa? 

Hỏi ra mới biết, Thân đã chơi hướng đạo từ Việt Nam. Năm 1980 vượt biên qua Palawan. Suốt 21 tháng ở đảo là 21 tháng cùng các bạn phát động phong trào hướng đạo. Liên đoàn tìm được cái tên xuất sắc, không thể nào khác được. Đó là lúc Ra Khơi chào đời. Có cờ hiệu đàng hoàng. Không phải một mình Thân. Còn rất nhiều các trưởng khác góp phần xây dựng đoàn. Nhiều lắm. Bác có thấy anh võ sĩ để râu kia. Anh là người đem lá cờ Ra Khơi từ trại tỵ nạn qua Mỹ.

      

Thực vậy, phong trào hướng đạo tại trại tỵ nạn là một giải pháp nhiệm mầu cho thanh thiếu niên. Không có sinh hoạt hướng đạo, không có tinh thần hướng đạo thì chỉ còn là thảm kịch. Tinh thần hướng đạo giúp cho anh chị em niềm tin và xây dựng cuộc sống lành mạnh trong hoàn cảnh đen tối.

       

Đó là lý do Ra Khơi thành lập. Bắt đầu từ Palawan 1980 và bến đáp là San Jose.

 

Ra Khơi tại San Jose

       

Khi vào được Mỹ, Trần Hoàng Thân và các bạn cũ từ bên đảo đã đến sinh hoạt với hướng đạo tại San Jose. Với lá cờ đầy kỷ niệm từ trại, tạo cơ hội cho anh em tái lập đoàn Ra Khơi năm 1985. Lúc đó võ sư Phạm Huy Khuê sáng lập võ đường Hùng Vương có sẵn lính. Võ sinh được mời vào hướng đạo. Đúng lý tưởng văn võ song toàn. Nhiều anh em góp sức. Ngày nay Ra Khơi có đội Ấu (Cub285 -BSA), đội Thiếu (Boy285 BSA), có đội Thanh (Venture222BSA) và có cả Tráng đoàn (Leader). Phía em gái có Girl scout 61212 GSUSA. Mỗi tuần sinh hoạt trên 100 em và đất nhà bây giờ là trường YB ở San Jose.

       

Tuần nào cũng có chào cờ Việt Mỹ, có bài ca hướng đạo và sinh hoạt mỗi tuần, mỗi tháng, mỗi năm. Các kỳ đi trại thì tổ chức luôn cho cả phụ huynh. Vì sinh hoạt chặt chẽ nên có sự gắn bó giữa phụ huynh và trưởng đoàn, cùng sinh hoạt với các em nhỏ.

 

Ước vọng tương lai  

 

Như vậy với Trần Hoàng Thân Ra khơi đã thấm thoát 27 năm tại San Jose. Tôi hỏi chuyện anh đoàn trưởng. Quả thực hướng đạo một đời quá dài. Chuyện gì khó khăn nhất. Tài chánh? Đoàn viên? Tranh chấp hay chuyện gì?

 

Lạ thực trong tinh thần hướng đạo hình như không có gì khó khăn như ta thường nghĩ đến. Các đoàn có tranh chấp như 2 cộng đồng chăng. Không đâu bác. Có kẹt tài chánh không? Đâu có nhu cầu gì phải tiêu tiền nên không thiếu tiền. Cha mẹ lo đồng phục cho con. Niên liễm dành chi tiêu lặt vặt. Sinh hoạt thì mọi người đóng góp thực phẩm. Có điều mượn chỗ để sinh hoạt hàng tuần hơi vất vả. Chẳng có chính quyền, nghị viên hay nhân sĩ cộng đồng quan tâm can thiệp. Anh em cứ lầm lũi tự mở đường. Bây giờ thì cũng tạm xong.

       

Còn về việc có thiếu cán bộ hay đoàn viên. Không trở ngại đâu. Sinh hoạt trên dưới 100 em là vừa đẹp. Không trở ngại vì các em thường ghi danh nhiều hơn số dự trù. Về lãnh đạo tương lai thì vẫn có các em đi hướng đạo từ nhỏ sẽ thay thế dần dần. Vậy thì ước mong tương lai của Ra Khơi là gì?

      

Trưởng Thân cho biết, đây là hướng đạo Mỹ gốc Việt nên ước mong của Ra Khơi là mỗi năm làm sao tổ chức được một hội làng Việt Nam. Rất tượng trưng để các em có được hình ảnh của gốc rễ con Rồng cháu Tiên. Ra Khơi và các đoàn khác đã cố gắng suốt bao nhiêu kỳ trại và bao nhiêu kỳ Hội Tết nhưng vẫn chưa thể hiện được hình ảnh một hội làng cho đầy đủ ý nghĩa.

      Trong khi đó thì đoàn viên trên 1,000 em hướng đạo của 13 liên đoàn là dư sức về nhân lực.

       Đó là ước vọng mà trưởng Trần Hoàng Thân 27 năm Ra Khơi vẫn còn mãi mãi suy tư.

 

Thế hệ nối tiếp 

 

Trong khi đó cô nữ sinh viên San Jose State cũng có giấc mơ rất đơn giản. Cố học cho xong để tốt nghiệp đáp lại giấc mơ của cha mẹ. Cô Thy Trương là con chim non của Ra Khơi 15 năm trước hiện nay là trưởng của đội ngũ sói con hướng đạo nam. Mỗi cuối tuần cô chăm sóc cho 20 cậu bé Cub Scout tiếng Việt gọi là Ấu. Lũ trẻ này quả thực là những đứa ngây thơ nhưng phá phách nhất. Đồng phục màu xanh biển đậm. Đa số da trắng mắt to nhưng nghịch ngầm. Buổi sáng các bà mẹ bỏ con xuống thì áo quần tươm tất, khăn nón đàng hoàng. Buổi trưa đón lũ trẻ về thì áo tụt ngoài quần, khăn mũ xốc xếch.

       

Cô gái chim non ngày xưa, bây giờ lại chính là đoàn trưởng phải đưa các em vào trật tự, phải gương mẫu, phải giữ kỷ luật. Không phải bằng roi vọt, không phải bằng lời hung dữ, không phải bằng dọa nạt.

       

Tôi hỏi cô Thy. Cháu giữ trật tự mấy đứa này bằng cách nào. Tôi cũng có đứa cháu trai mới qua Cub vừa lên Boy Scout. Cháu rất khó chịu, nên tôi muốn học nghề thực sự. Cô trưởng của đoàn Cub Scout Ra Khơi này tỏ vẻ e thẹn không trả lời. 

          

Nhìn cô bé dù là sinh viên 20 tuổi của đại học San Jose, đoàn trưởng Ấu sinh 285 BSA, nhưng cô vẫn mãi mãi là chim non của đoàn Ra Khơi. Hướng đạo có thể đào tạo con người xuất sắc, có thể không, nhưng có điều chắc chắn là hướng đạo làm cho con người không già. Các anh chị, ông bà, các cụ mà đã từng chơi trò hướng đạo thì mãi mãi vẫn là sói con và chim non…

        

Một hôm tôi chợt bị cảnh sát hú còi dẹp xe vào lề. Hết hồn. Quay lại thấy trung sĩ cảnh sát Lưu kêu to: Bác Lộc, you are OK. Tôi hỏi ngay. Hôm nọ tao thấy mày stop xe của thằng kia, sau đó mày lại bắt tay cho nó đi. Sao vậy?

         

Nó là hướng đạo mà bác. Scout không bao giờ có lỗi hết.[GC]

        

 
Published in Chuyện San Jose

 

 

ĐỨC HÀ

Viết riêng cho Việt Tribune

 

Cư dân District 4 ở San José hồi gần đây thường thấy một người gốc Việt cùng các ủng hộ viên đến từng nhà, gặp từng cử tri để vận động sự hậu thuẫn cho cuộc bầu cử sơ bộ ngày 5 tháng Sáu tới. Ứng cử viên Tâm Trương, 31 tuổi, chia xẻ với Việt Tribune:

“Chúng tôi đến gõ cửa từng hộ trong Khu Vực 4 kêu gọi sự ủng hộ và đã nhận được những phản hồi rất khích lệ. Nhiều cử tri nói rằng họ muốn có sự thay đổi ở cấp lãnh đạo trong District 4 với lý do họ bất đồng với người đương nhiệm vì những quan hệ mật thiết của người này với các nghiệp đoàn cũng như đứng về phía nghiệp đoàn.”

 

Tâm Trương cho biết khó có thể tiên đoán chính xác 100% kết quả bầu cử khi còn đến gần tháng nữa cử tri mới đến phòng phiếu nhưng anh tin rằng cơ may thắng rất lớn. Và điều này cho thấy người thắng cử sắp tới đây ở Khu Vực 4 - nơi trước đây ông Chuck Reed từng là đại diện trước khi trở thành thị trưởng, sẽ tùy thuộc vào số phiếu có tích cực ủng hộ đường lối của ông Reed nữa hay không. Anh Tâm được sự hậu thuẫn của ba người trong Hội Đồng Thành Phố là ông Thị Trưởng, bà Phó Thị Trưởng Madison Nguyễn, Nghị Viên Pete Constant và nếu đánh bại được Nghị Viên Kansen Chu, người đương nhiệm, cánh của ông Reed sẽ có ít nhất bốn phiếu trong các cuộc bầu bán trong thành phố. Dân số District 4 có 93,694 cư dân bao gồm bốn khu vực Alviso, Berryessa, North San Jose và North Valley. 

 

Vào kỳ bầu cử tháng Sáu năm nay tại San Jose sẽ có 17 ứng viên - tính luôn bốn người đương nhiệm, cùng dự tranh vào Hội Đồng Thành Phố, trong đó có hai người gốc Việt: luật sư Jimmy Nguyễn tranh ghế ở District 8 và Tâm Trương ở District 4. Cả hai đều trẻ tuổi, học vấn cao, quá khứ “sạch,” tranh cử lần đầu và không theo thông lệ của phần đông ứng viên gốc Việt thường hay khởi đầu sự nghiệp chính trị từ cấp học khu. Tuy nhiên nếu Jimmy Nguyễn tranh cử với tính cách độc lập thì Tâm Trương tham dự cuộc tranh tài với chủ trương ủng hộ hoàn toàn đường lối của Thị Trưởng Chuck Reed, nhất là trong vấn đề cải tổ tiền hưu cho công chức thành phố (xem bài về Measure B) và cân bằng ngân sách. Và nếu người Việt San Jose mới chỉ nghe đến tên Tâm Trương lần đầu – ngoại trừ những người phạm pháp hay từng dính líu đến luật pháp thì trong ngành công lực anh là người có hồ sơ cá nhân dày cộm.

 

Tốt nghiệp trung học trường Silver Creek High School, và cử nhân khoa học về Hành Chánh Tư Pháp đại học San Jose State University, Tâm Trương hoàn tất bằng MA ngành Quản Trị Doanh Nghiệp đại học University of Phoenix năm 2007. Anh gia nhập ngành bảo vệ an ninh năm 2004 và giữ chức Deputy Sheriff trong Quận Hạt Santa Clara trong bốn năm trước khi chuyển sang cơ quan cảnh sát San Jose năm 2008. Hiện nay Tâm Trương là thám tử chuyên phụ trách các vụ án mạng tình dục thuộc Phòng Điều Tra của sở cảnh sát SJPD. Tuy nhiên với nhiều người Việt ủng hộ Madison Nguyễn và thường hay tham gia các buổi sinh hoạt cộng đồng của bà phó thị trưởng thì Tâm Trương không mấy xa lạ. Trang blog Little Saigon Inside cho biết Tâm Trương luôn có mặt cạnh Madison Nguyễn trong các buổi sinh hoạt tiếp xúc với các cộng đồng San Jose. Madison cũng có mặt khi Tâm gây quỹ, và cả tư vấn cho những người ủng hộ Tâm tại trụ sở tranh cử trên đường Lundy. Các cơ quan truyền thông nhiều lần trích dẫn lời phát biểu của phó thị trưởng rằng “... ông Trương là sự chọn lựa đúng nhất vì đây là chuyện chưa hề xảy ra ở San Jose khi một ứng viên cùng lúc được cả thị trưởng lẫn phó thị trưởng hậu thuẫn.”

Không chỉ ủng hộ chương trình hành động của ông Reed, Tâm Trương còn có những chủ trương riêng chủ yếu nhằm đem lại sự ổn định tài chính cho thành phố và đưa San Jose trở lại danh sách những thành phố an ninh nhất Hoa Kỳ. Trên trang nhà tamtruongforcitycouncil.com, anh cho biết ba lý do khiến anh phải ra tranh cử:

“Tái cấu trúc ngành cảnh sát, phục hồi những dịch vụ cốt yếu của thành phố, và làm hồi sinh mảng công ăn việc làm cho cư dân.” Anh nhấn mạnh rằng nước Mỹ đang trải qua một trong những tình trạng suy thoái tệ hại nhất kể từ cuộc Đại Khủng Hoảng và điều này không cho phép mọi người thờ ơ với nền kinh tế hiện nay.

“Tôi tin rằng San Jose sẽ trở thành một thành phố thí điểm cho cả nước nếu cư dân ở đây quyết tâm vùng dạy đối đầu với những thử thách trong vấn đề ngân sách bằng cách ủng hộ cải tổ quỹ hưu trí, củng cố hay loại bỏ những dịch vụ trùng lắp, và mua bán sắm sửa tại địa phương để giúp khoản thu nhập về thuế cho thành phố.”

 

Với tư cách là một nhân viên cảnh sát, Tâm Trương cho hay an ninh là mối ưu tư số 1, và muốn mang lại trật tự và an ninh công cộng cho thành phố thì phải kiểm soát chặt chẽ khoản chi tiêu kể cả trong vấn đề hưu bổng. Anh nêu lý do khiến cư dân trong District 4 cũng như cá nhân anh không hài lòng với người đại diện hiện nay:

“Đại diện Khu Vực 4 không tiếp cận với cư dân địa phương và cũng không phục vụ cho quyền lợi chung. Nghị Viên Chu bỏ phiếu chống cho bất cứ sáng kiến nào của ông thị trưởng nhằm giải quyết tình trạng ngân sách thâm thủng. Chính ông ta hô hoán ủng hộ việc cải tổ quỹ hưu bổng nhưng cũng chính ông ta không muốn đưa Measure W vào kỳ bầu cử năm 2010.” Năm nay ông Kansen Chu cũng chống lại Measure B có nội dung cho phép Hội Đồng Thành Phố sửa đổi bản hiến chương về quỹ hưu bổng công chức.

 

Measure B: YES

 

Khi được hỏi vì sao chính Tâm Trương là nhân viên cảnh sát lại muốn sửa đổi quy chế hưu bổng đặc biệt ưu đãi nhân viên cảnh sát và cứu hỏa khi nghỉ hưu, anh giải thích:

“Là một thành viên của SJPD, khi nghỉ hưu tôi cũng sẽ được hưởng những ưu đãi của quỹ hưu bổng nhưng khi muốn thấy có sự cải tổ thì phải quên bản thân mình và nghĩ đến bối cảnh lợi ích của cả thành phố trong đó có Khu Vực 4. Tôi nghĩ rằng thành phố không thể tiếp tục hướng đi hiện nay khi phải chi tiêu quá nhiều vào chuyện hưu bổng cho công chức. Nói tóm lại là khi chi tiêu quá nhiều cho quỹ dành cho công chức hưu trí thì ngược lại điều đó cũng sẽ tác động đến tất cả mọi cư dân San Jose, nhất là về phẩm chất của đời sống. Tôi ủng hộ Thị Trưởng Reed trong vấn đề này, và sẽ bỏ phiếu YES.

Nhìn về tương lai, Tâm Trương phác họa chương trình hành động:

“Nếu thành công, chúng tôi sẽ tập chú vào việc phục hồi những dịch vụ cốt yếu cho cư dân thành phố. Một khi mức thâm thủng giảm và thu nhập tăng thì chúng ta không thể cho phép tiếp tục chính sách đã tạo nên một nền kinh tế suy yếu. Tôi tin rằng cư dân Khu Vực 4 đáng được hưởng điều đó và họ cũng kỳ vọng như vậy.”

Là một thành viên thuộc lực lượng gìn giữ an ninh cho San Jose, Tâm Trương không thể không quan tâm đến tình trạng an ninh của cư dân không chỉ trong khu vực anh tranh cử mà cho cả toàn thành phố:

“An ninh cho mọi cư dân San Jose là mối ưu tư của tôi. Cho dù San Jose được đánh giá như thế nảo đi nữa về mức độ an ninh công cộng thì theo tôi lực lượng cảnh sát vẫn phải được tăng cường thêm nhân sự.”

Anh nói rằng khi bắt đầu công tác trong ngành cảnh sát, toàn lực lượng có đến 1,385 nhân viên, hiện nay không đầy 1,082 người. Kết quả là có nhiều vụ việc không được quan tâm và yêu cầu giúp đỡ của người dân không được giải quyết nhanh chóng.

“Vì lý do thiếu nhân sự những cuộc gọi báo động đến sở cảnh sát đều không được đáp ứng nếu không được xác minh cụ thể. Hãy thử nghĩ coi thế nào là xác minh trong một trường hợp báo động: liệu có phải khi bạn về đến nhà và thấy nhà trống trơn vì ai đó đã dọn sạch hay nửa đêm thức giấc vì hệ thống báo động reo vang.”

 

Người ta không thể biết liệu một ứng cử viên được sự hậu thuẫn của Thị Trưởng Reed và Phó Thị Trưởng Madison Nguyễn – người bị nhiều dèm pha và chỉ trích trong vụ đặt tên Little Saigon San Jose, và phải đối đầu với ông Kansen Chu giầu tiền bạc và là người đã bám rễ khá sâu vào Khu Vực 4 từ chục năm qua, có thắng lớn và thắng đẹp hay không là câu trả lời chưa có giải đáp dứt khoát. Chắc chắn Tâm Trương sẽ lấy được hết phiếu của cử tri cùng chủ trương và hành động với Thị Trưởng Reed, nhưng phiếu bầu của cử tri gốc thiểu số như Mễ hay Việt (25%) thì chưa chắc. Còn cử tri gốc Hoa (khoảng 18%), cử tri cảnh sát, nhân viên cứu hỏa và người của nghiệp đoàn thì rất khó gom phiếu nếu không nói là không lấy được. Tính đến cuối tháng Ba, Nghị Viên Kansen Chu vận động được trên 45 ngàn trong khi Tâm Trương đạt được hơn nửa.

 

Lịch trình:

 

Bầu sớm và bầu khiếm diện: thứ Hai 07 tháng Năm tại văn phòng Registrar’s Office

Hạn chót ghi danh đi bầu: thứ Hai 21 tháng Năm

Hạn chót ghi danh bầu khiếm diện: thứ Ba 29 tháng Năm.

Ngày bầu cử: thứ Ba 05 tháng Sáu, từ 7AM đến 8 PM

 
Saturday, 12 May 2012 18:38

Mười Năm Săn Bắt Osama bin Laden

 

PETER BERGEN

NGUYỄN MINH TÂM trích dịch

 

Kỳ 1

 

Peter Bergen là ký giả tây phương đầu tiên được vào xem căn biệt thự nơi Osama bin Laden cư ngụ ở tỉnh Abbotttabad,Pakistan. Ông nghiên cứu hơn 6,000 tài liệu của tình báo Mỹ, và Pakistan để viết nên cuốn sách: “Manhunt: The Ten-Year Search for Bin Laden from 9/11 to Abbottabad.”- “Cuộc săn bắt con mồi: Quá trình 10 năm lùng bắt Bin Laden từ vụ khủng bố 9/11 đến tỉnh Abbottabad.”. Chúng tôi xin trích dịch bài tóm lược cuốn sách trên báo TIME ngày 7 tháng Năm 2012.

 

Sáng sớm ngày 2 tháng Năm, năm 2011, căn nhà nơi Osama Bin Laden cư ngụ đột nhiên sáng rực lên, kèm theo là những tiếng nổ kinh hồn. Cô bé Maryam, 20 tuổi, con gái của Bin Laden chạy vội lên phòng ngủ của cha ở trên tầng lầu cao nhất để hỏi xem chuyện gì đang xảy ra. Hắn chỉ vắn tắt nói với con gái: “Đi xuống dưới nhà, vào phòng  ngủ đi con. Đừng bật đèn lên con nhé.”

 

Hắn không cần phải dặn dò đứa con gái, vô ích. Một người nào đó đã thận trọng cúp điện cả khu vực trong xóm. Do đó, toán biệt kích Ngưởi Nhái của Hải Quân Hoa Kỳ có thể xông vào tấn công chớp nhóang căn biệt thự của bin Laden ở tỉnh Abbottabad, Pakistan. Đêm hôm đó lại là một đêm không có trăng, một điều kiện thuận lợi cho hoạt động của toán biệt kích.  Thực ra, chỉ thị của Bin Laden nói với bà vợ trẻ Amal, mới là lời nói sau cùng của hắn.

 

Năm mươi sáu giờ trước đó, bên đầu bên kia của trái đất, Tổng Thống Hoa Kỳ đã lấy quyết định quan trọng sau nhiều tháng cân nhắc, thảo luận kỹ càng đủ mọi góc cạnh của vấn đề. Ông nói với Cố Vấn An Ninh Quốc Gia: “It’s a go”, “Hãy cho làm theo kế hoạch đề nghị đi.” Từ Afghanistan ở kế bên, một tiểu đội gồm những chiến sĩ cảm tử tinh nhuệ được đưa lên trực thăng, bay thật nhanh và thấp, xuyên qua các rặng núi trùng điệp, trước khi hạ cánh bao vây căn biệt thự để giữ an toàn trong lúc ra tay hành động. Họ dùng thuốc nổ phá tung cổng sắt khoá chặt. Rồi ba người lính biệt kích xông thẳng lên trên lầu.

 

Cuộc chiến đấu tốn nhiều xương máu của Bin Laden chống lại Hoa Kỳ và đồng minh sắp đến hồi kết thúc. Cuộc sống và cái chết của Bin Laden ở tỉnh Abbottabad được ký giả Peter Bergen mô tả lại trên trang sách cho thấy những nghịch lý trong cuộc sống của tên lãnh tụ khủng bố kỳ lạ này. Ông Peter Bergen đã phỏng vấn nhiều viên chức Hoa Kỳ, các điều tra viên Pakistan, và nghiên cứu nhiều bài viết của Bin Laden chưa hề được công bố. Ông là ký giả Tây phương duy nhất có may mắn được vào xem xét tường tận căn biệt thự của Bin Laden trước khi toà nhà này bị chính phủ Pakistan cho kéo sập, san thành bình điạ. 

 

 

Tầng lầu thứ ba 

xây thêm ngoài giấy phép qui định

 

CĂN BIỆT THỰ LÀ MỘT NƠI LÝ TƯỞNG để nghỉ hưu thoải mái, và kín đáo. Nằm soai soải trên sườn đồi là những căn nhà xinh xắn, bao quanh bằng những ngọn núi nhỏ, tỉnh Abbottabad giống như một thành phố ở Thụy sĩ, nằm phía bắc Pakistan, với số dân khoảng nửa triệu người, trên triển đồi ở cao độ 4,000 feet, ngay dưới chân dẫy núi Hy Mã Lạp Sơn. Với ưu điểm về khí hậu mát mẻ về mùa hè, và hầu như không có tội phạm xảy ra. Vì thế, tỉnh Abbottabad trở thành điạ điểm nghỉ mát được ưa thích của nhiều gia đình công chức, và sĩ quan cao cấp. Mùa nghỉ hè bắt đầu từ tháng Sáu, nhiểu gia đình muốn trốn cái nắng như thiêu đốt của vùng đồng bằng Pakistan lên đây để nghỉ mát. Thành phố còn có những sân cù (golf) đẹp nhất Pakistan. Khí hậu ở đây trong lành, êm ả, dễ chịu hơn so với những thành phố bụi bậm, náo nhiệt khác của Pakistan.

 

Chính cái điạ điểm khí hậu trong lành, yên tĩnh của tỉnh Abbottabad khiến cho Bin Laden đã chọn nơi này làm chốn dung thân sau gần nửa thập niên trốn tránh ở  nhiều nơi khác, kể từ sau thắng lợi của y là vụ khủng bố 9/11. Mãi cho đến mùa Xuân năm 2011, tên thủ lãnh khủng bố vẫn còn sống ở khu xóm Bilai Town gần căn biệt thự hiện nay. Giữa những căn biêt thự có cổng ra vào sơn mầu trắng có cửa hàng bán rau, hoa qủa. Quang cảnh điạ hình ở đây thật là êm đềm, tươi mát, một nơi để sống dễ chịu. Bắt đầu từ năm 2005, căn biệt thự dành cho Bin Laden ở được xây lên từ một bãi đất trống. Trong lúc xây căn biệt thự này, tầng lầu thứ ba được cất thêm không có trong hoạ đồ xin giấy phép. Có lẽ đây là một thông lệ vẫn hay dùng để ăn gian bớt tiển thuế thổ trạch. Ngoài ra, còn một lý do thầm kín khác, là người ta muốn giữ bí mật vể tẩng lầu thứ ba này. Vâng, đó là tầng lầu chỉ dành riêng cho Bin Laden và Amal, cô vợ trẻ nhất người Yemen, được Bin Laden sủng ái.

 

Tầng thứ ba này hơi khác những lầu khác. Chỉ có một bề tường là có cửa sổ, ba bề tường kia không có cửa sổ. Và những cửa sổ đó dùng loại kính đục, ở ngoài không thể nhìn vào bên trong được. Trong năm cửa sổ, có bốn cái ở cao hơn tầm mắt người ngoài đường. Một khoảng sân thượng nhỏ được nới ra ngoài, kế đến là bức tường cao 7 feet (hơn 2 mét) để ngăn cản tầm nhìn của người ngoài đường, dù cho người đó cao cỡ Bin Laden. Hắn ta cao tới 6 feet 4inch, tức hơn 1m 85. Quần áo y thường mặc hàng ngày là chiếc áo thụng dài màu nhạt, khoác thêm một tấm áo vest mầu đậm, và đội chiếc mũ mỏng ôm sát đầu, dùng để cầu kinh. Trong suốt năm năm sống tại đây,  Bin Laden ít khi ra khỏi tầng ba và tầng hai của căn biệt thự. Khi bước ra ngoài, thường là y chỉ đi tản bộ trong mảnh vườn sau nhà. Mảnh vườn này là nơi trồng rau, và nuôi gà, cung cấp thức ăn tươi cho gia đình. Một tấm bạt bằng nhựa rẻ tiền được dùng để che chở cho người đi bộ trong vườn không bị vệ tinh dò thám của Mỹ từ trên trời trông thấy.

 

Một người vốn quen sống ngoài trời như Bin Laden, chắc phải cảm thấy tù túng với cuộc sống như vậy. Nhưng bù lại, điạ điểm này có nhiều vị thế tốt để che chở cho y. Trước hết là hắn có thể thoát khỏi sự theo dõi bằng máy bay gián điệp của Mỹ. Lúc sau này, rất nhiều phụ tá thân tín của Bin Laden đã bị máy bay gián điệp (drone) của Mỹ tiêu diệt. Bọn chúng là thành phần ưu tú, chủ chốt của tổ chức al-Qaeda. Chúng vẫn sống lẩn trốn trong các bộ lạc ở vùng rừng núi cao, cách Pakistan khoảng 200 dậm về phía tây. Ngoài ra, sống trong căn biệt thự này, Bin Laden được sống chung với ba bà vợ, và một đám đông con cháu của y.

 

Bin Laden có nhiều vợ, trẻ nhất là cô Amal 29 tuổi, và già nhất là bà Khairiah, 62 tuổi. Bà già này mới tái xuất hiện chung với Bin Laden lúc gần đây. Bà tỏ ra sung sướng được đoàn tụ với Bin Laden. Hắn lấy bà vào năm 1985, lúc hắn mới 28 tuổi, và bà ta 35 tuổi. Trước khi lập gia đình, bà Khairiah là một người sống tự lập. Bà có nghề chuyên môn. Bà là giáo viên dạy trẻ câm điếc. Ngoài ra, bà còn có bằng Tiến sĩ, và bà thường hay khoe với mọi người về gốc gác khá giả của gia đình bà. Nghe đâu bà thuộc dòng dõi của ngài Tiên tri Muhammad.

 

Sau khi chế độ Taliban ở Afghanistan bị lật đổ vào năm 2001, bà Khairiah phải rời khỏi Afghanistan sang sống ở bên Iran cùng với những đứa con bà có với Bin Laden. Trong nhiều năm, bà và những đưá con đem theo phải sống trong hoàn cảnh bị giam lỏng ở thủ đô Teheran. Đến mùa hè nóng như thiêu đốt của năm 2010, bà Khairiah đã tìm cách thoát khỏi Teheran, và đi đến tỉnh Bắc Waziristan, một bộ lạc trên vùng núi Pakistan, cách thủ đô Teheran 1,500 dậm về phía đông. Chuyến đi này thật là gian khổ, bà phải vượt qua nhiều rặng núi hiểm trở, và những vùng sa mạc nóng nhất thế giới. Cuối cùng bà về được Abbottabad để sống gần với chồng.

 

Một bà vợ lớn tuổi khác của Bin Laden, cùng sống chung trong căn biệt thự này là bà Siham bin Abdul bin Husayn. Bà Siham 54 tuổi, có bằng Tiến sĩ văn phạm Koran. Bà từng sống chung với Bin Laden ở Sudan hồi thập niên 1990. Là một thi sĩ, và có tài về văn chương, bà thường phụ trách việc sửa chữa những bài viết của Bin Laden.

 

Trước khi xảy ra vụ khủng bố 9/11, Bin Laden lấy thêm một cô vợ trẻ tên là Amal. Khi lấy cô ta, Bin Laden đã 43 tuổi, và cô là một thiếu nữ 17 tuổi. Sự cách biệt tuổi tác 26 năm không làm cho đôi vợ chồng sống kém hạnh phúc. Amal có với Bin Laden năm đưá con, trong đó có hai đưá đang sống với hai vợ chồng trong biệt thự ở Abbottabad.

 

Có lẽ cuộc sống đa thê với ba bà vợ là nguồn an ủi duy nhất cho Bin Laden. Hắn thành thật tin rằng sống đa thê, đẻ nhiều con là một trách nhiệm tôn giáo hắn phải làm. Trong những câu chuyện với đám bạn đàn ông thân, hắn thường đem lời dậy của Đấng Tiên Tri Muhammad nói: “Nên lấy vợ và đẻ nhiều con, làm như thế, bạn sẽ làm tăng dân số theo Hồi Giáo.” Hắn còn nói đuà với một số bạn bè khác: “Tôi không hiểu sao người ta có thể lấy một vợ. Phải lấy bốn vợ mình mới sống trọn vẹn cái thú làm chú rể của thằng đàn ông.” (Hình như đây là câu nói đuà duy nhất của Bin Laden, hắn ít khi nào nói bông đuà diễu cợt). Muốn có đời sống tình dục cương cường như một chú rể mới cưới vợ, Bin Laden dùng loại nước cốt thảo mộc Avena - một loại thuốc cường dương tương tự như Viagra, lấy từ yến mạch (wild oats). Người ta tìm thấy loại nước cốt Avena trong biệt thự của Bin Laden.

 

Cuộc sống trong cơ ngơi của Bin Laden không mấy gì xa hoa, sang trọng, nếu không nói là đơn sơ, nghèo nàn. Nhưng đối với cô Amal, cuộc sống ở đây quá tốt, tốt gấp vạn lần so với hồi cô còn ở trong ngôi làng nghèo khó, miền quê nước Yemen. Muốn lấy thịt để ăn, cả gia đình Bin Laden gồm hơn một chục nhân mạng ăn thịt hai con dê một tuần. Người ta làm thịt dê ngay trong vườn sau của dinh cơ. Sữa thì lấy từ mấy con bò nuôi trong chuồng, ngoài sân sau. Khoảng hơn 100 con gà được nuôi để lấy trứng. Mật ong  và rau qủa cũng lấy từ căn vườn trồng trọt tự túc để ăn dần. Thỉnh thoảng, họ mới mua đồ hộp ở tiệm tạm hoá  gần nhà, như dầu olive hiệu Sasso, và luá mạch hiệu Quaker Oats. 

 

Bên trong biệt thự, phòng ốc chỉ sơn một mầu nhạt trơ trụi, và không một bức tranh nào được treo trên tường theo đúng tinh thần tôn giáo chính thống của Bin Laden. Không có máy lạnh để dùng vào mùa hè. Mùa đông chỉ có cái lò sưởi thô sơ chạy bằng hơi gas . Mùa hè ở đây nóng lắm, nhiệt độ thường là trên 100 độ F. Muà đông có tuyết. Trang bị cho căn nhà của Bin Laden hết sức thô sơ, do đó, chi phí về gas điện rất ít, chỉ tốn khoảng chừng $50 đô la mỗi tháng. Giường ngủ trong nhà đóng bằng loại gỗ ván rẻ tiến, giống như loại giường cho người ở tạm, hơn là sống lâu dài tại đây. 

 

Với cô vợ trẻ nhẫn nhịn, và bà vợ già nghiêm khắc, tôn ty trật tự trong gia đình  do bà vợ cả Khairiah chỉ huy. Ít khi có chuyện cãi vã giữa những bà vợ của Bin Laden. Tất cả các bà vợ đều chấp nhận tình trạng đa thê của ông chồng, họ tin rằng Thượng Đế đã sắp xếp như vậy. Mỗi bà vợ có một khoảng không gian, phần hộ riêng để sống, có nhà bếp riêng để nấu ăn. Khói của nhà bếp được thải ra ngoài bằng ống sắt thô sơ. Tầng lầu ba dành riêng cho một mình cô Amal ở với Bin Laden. Trong lúc hai tầng dưới dành cho hai bà vợ già.

 

Ngoài ra, còn phải kể đến người cận vệ thân tín, đóng vai trò giao liên của Bin Laden cũng sống trong dinh cơ này. Tên của người vệ sĩ là Abu Ahmed al-Kuwaiti (thường được gọi tắt là Kuwaiti). Người giao liên sống với em trai, và vợ con của họ trong căn nhà nhỏ ở phía trước, rất thiếu thốn. Mỗi tháng Bin Laden chu cấp cho Kuwaiti và em trai y một số tiền là 12,000 rupees, khoảng hơn $100 đô la. Điều này cho thấy tiền bạc trong ngân qũi của tổ chức al-Qaeda đã cạn kiệt lắm rồi.

 

Căn nhà phía trước dành cho Kuwaiti và gia đình y ở nhỏ xíu và sơ sài lắm. Một bức tường cao hơn hai thước ngăn căn nhà nhỏ với căn biệt thự của Bin Laden. Bà Mariam, vợ cùa Kuwaiti ít khi bước vào nhà của Bin Laden, trừ phi phải vào trong để dọn dẹp, chùi rửa căn biệt thự cho gia đình Bin Laden.  Có một lần duy nhất bà Mariam trông thoáng thấy người đàn ông lạ, nói tiếng Ả rập sống trong căn biệt thự. Chồng của bà Mariam đã dặn bà từ lâu là có một người lạ sống ở đó, và cấm bà không được nói với bất cứ một ai về người lạ này. Bin Laden đã phải sống lén lút, dấu  kín tông tích của mình ngay cả đối với những người sống trong dinh cơ của y.

 

Trên tầng lầu cao nhất, Bin Laden sống qua ngày với cô vợ trẻ Amal. Trần nhà phòng ngủ của hắn có vẻ hơi thấp so với dáng người cao quá khổ của Bin Laden. Một  phòng tắm nhỏ xíu đặt ở góc phòng ngủ, lát gạch màu xanh lá cây trên tường, nhưng dưới nền không được lát gạch. Bàn cầu đi vệ sinh rất thô sơ, loại ngồi bệt sát xuống đất, bằng hai bàn chân. Mỗi khi đi vệ sinh là phân trôi tuột xuống cái lỗ nhỏ. Phòng tắm được che bằng miếng nhựa plastic rẻ tiền. Trong phòng tắm, Bin Laden thường xuyên phải dùng thuốc nhuộm tóc “Just for Men” để nhuộm bộ râu bạc trắng của y, giúp y trông còn tráng kiện trẻ trung. Hắn ở lứa tuổi trên sáu mươi, râu bạc, trông già yếu lắm.  Kế bên phòng ngủ là một nhà bếp nhỏ, kích thước chỉ bằng một phòng treo quần áo. Bước qua một hành lang nhỏ là phòng đọc sách của Bin Laden. Nơi đây hắn bầy những cuốn sách trên kệ làm bằng gỗ thô sơ, và hắn dùng phần lớn thời giờ để ngồi trước computer làm việc. Hắn hay soạn thảo những bản chỉ thị dài lê thê để người giao liên đem giao cho các phụ tá thân tín. 

 

Hắn không ngờ rằng nhiều văn thư, chỉ thị hắn viết ra lại lọt vào tay CIA. Một văn thư Bin Laden khuyên các nhóm tham gia cuộc thánh chiến chớ nên dùng một bí danh để ám chỉ al-Qeada. Ngày 7 tháng Tám, hắn viết cho một tay lãnh tụ hung tợn của nhóm phiến quân ở Somalia, tên là al-Shabab, không nên tự nhận mình là thành viên trong al-Qaeda. Bởi vì làm như thế sẽ không nhận được sự giúp đỡ về tài chánh của nhiều người Ả rập giầu có, lại còn lôi cuốn sự chú ý của kẻ thù. 

 

Tháng 10 năm 2010, Bin Laden viết một văn thư dài 48 trang gửi cho các phụ tá ngoài chiến trường. Theo hắn, sau khi duyệt xét, và thăm dò dư luận về tình hình chiến đấu của phong trào thánh chiến Hồi Giáo, hắn nhận thấy năm 2010 là năm gây nhiều thất bại lớn cho Mỹ ở Afghanistan, và đó là xu hướng tốt, sẽ khiến cho Mỹ ngày càng lún sâu thêm vào tình trạng ngân sách thâm thủng. Nhưng đồng thời Bin Laden cũng bầy tỏ mối lo ngại là vùng an toàn khu Waziristan của al-Qaeda, một bộ lạc nhỏ thuộc lãnh thổ Pakistan lúc gần đây bị máy bay gián điệp drone của Mỹ ném bom dữ dội. Bin Laden viết rõ: “Tôi nghe nói là máy bay của giặc Mỹ làm cho nhiều anh em chúng ta phải bỏ chạy tứ tán.”

 

Bin Laden cũng bầy tỏ mối lo ngại về đứa con trai 20 tuổi của y tên là Hamza. Trong năm 2010, thằng bé phải bỏ chạy, trốn tránh từ bộ lạc này sang bộ lạc khác. Hắn viết rõ: “Các đồng chí phải nhắn tin cho cháu Hamza biết ý kiến của tôi là cháu nên ra khỏi vùng Waziristan…… Nó chỉ nên ra đi khi biết chắc trên trời không có mây dầy đặc, ám chỉ có máy bay theo dõi..” Trong lúc lớn tiếng kêu gọi đám thanh niên trẻ tham gia vào cuộc thánh chiến, thì hắn lại viết thư riêng nhắn con trai của mình nên trốn đi, đến ẩn mình trong nước Qatar, một vương quốc Ả Rập nhỏ bé.

 

Bin Laden cũng viết thư nhắc nhở các phụ tá của y “liên lạc với nhau bằng thư viết tay, không nên dùng điện thoại, hay Internet. Vì thế, nhiều khi hắn phải đợi chờ cả hai hay ba tháng mới nhận được thư hồi âm của các cộng sự viên. Điều này làm cho việc điều hành tổ chức al-Qaeda không còn hữu hiệu nữa.

 

Bin Laden luôn luôn tìm cách phác họa kế hoạch hành động để gây sự chú ý của giới truyền thông. Hắn ra chỉ thị cho đàn em trong tổ chức: “Nhân dịp kỷ niệm 10 năm ngày tấn công 9/11 sắp tới. Đây là một ngày rất quan trọng, chúng ta nên bắt đầu chuẩn bị làm việc gì để đánh dấu ngày quan trọng này. Các đồng chí hãy gửi về cho tôi những đề nghị cụ thể.” Hắn đề nghị đồng chí của hắn nên tiếp xúc với hệ thống truyền hình Jareera bộ phận nói tiếng Anh, cũng như bộ phận nói tiếng Ả Rập. Ngoài ra, hắn cũng muốn được tung tin trên đài truyền hình Mỹ. Hắn viết: “Chúng ta cũng nên tiếp xúc với một hệ thống truyển hình Mỹ, thân thiết với chúng ta, và không có thành kiến, ví dụ như hệ thống CBS.” 

 

Cho đến phút cuối, Bin Laden vẫn cố gắng tìm cách phóng ra một cuộc tấn công qui mô vào Hoa Kỳ. Hắn hối thúc một tay đàn em: “Thật là hay nếu đồng chí có thể chỉ định một người anh em đủ khả năng thực hiện một chiến dịch lớn đánh vào Hoa Kỳ. Hay nhất là đồng chí chọn ra vài anh em, không quá 10 người, rồi gửi họ đến  nước sinh quán của họ để học lái máy bay. Không nên cho họ biết về nhau liên quan đến lớp huấn luyện lái máy bay.

 

Đáng sợ nhất là chính Bin Laden đã phiền trách tên Faisal Shahzad, một người gốc Pakistan, theo Taliban, mang quốc tịch Mỹ. Tên này lãnh công tác làm nổ tung chiếc xe SUV ở Time Square, New York, vào ngày 1 tháng 5 năm 2010. Tên khủng bố về sau ân hận đã phản bội lời thề khi xin vào quốc tịch. Y nói: “Người Hồi Giáo không nên phản bội lời thề mình khi đã hứa, và ký tên vào thỏa ước.” Lời than của hắn khiến cho việc tuyển công dân Mỹ đi làm công tác khủng bố là điều đáng tiếc.  Vì vậy, mọi cố gắng tấn công vào Hoa Kỳ, hay các nước Tây phương trở nên khó khăn hơn. Đã thế, chính tay phụ tá số một của Bin Laden, tên Ayman al-Zawahiri còn viết thư phản bác ý kiến của Bin Laden. Y nói Bin Laden cần phải nhận thức tình hình sát thực tế hơn. Tấn công lính Mỹ ở Afghanistan dễ hơn là tấn công thường dân trên lãnh thổ Hoa Kỳ.

 

Thực vậy, kể từ mùa xuân năm ngoái, Bin Laden và đồng bọn không thể tung ra một cuộc tấn công khủng bố nào thành công tại các nước Tây phương. Lần sau cùng xảy ra vào ngày 7 tháng 7 năm 2005, chúng đặt bom phá hoại hệ thống giao thông ở Luân đôn. Dĩ nhiên, kể từ sau thắng lợi ngày 11 tháng 9 năm 2001, tổ chức al-Qaeda chưa làm thêm được một cuộc tấn công nào thành công ở Hoa Kỳ cả. – Còn một kỳ nữa

 
Published in Ký sự

Vanessa Vân Ánh Võ, cô gái Việt Nam cùng những nhạc cụ dân tộc đã chinh phục nhiều trái tim yêu nhạc trên thế giới. Trong cuộc hành trình âm nhạc của cô, Vân Ánh đã được mời diễn chung với những nhạc sĩ tài danh và đoạt được nhiều giải thưởng cao quý, trong đó có giải thưởng Emmy mà nhiều nghệ sĩ luôn mơ ước được một lần chạm tới. 

Trong cuộc trò chuyện thân tình với Việt Tribune, Vân Ánh tâm sự cô bắt đầu học nhạc truyền thống Việt và đàn tranh từ khi lên bốn tuổi.  Cô tốt nghiệp loại xuất sắc rồi dạy học tại Trường Âm Nhạc Việt Nam.  Năm 1995, Vân Ánh được giải nhất trong Cuộc thi Đàn tranh Quốc gia Việt Nam tổ chức tại Sài Gòn và đồng thời đoạt giải đặc biệt về biểu diễn độc tấu nhạc dân tộc cải biên.  Trong thời gian sống tại Việt Nam, cô thường biểu diễn xuyên Việt Nam và nhiều nước khác. Vân Ánh là nữ nghệ sĩ chơi được gần như hầu hết các nhạc cụ dân tộc từ đàn bầu, tranh, t'rưng đến cả hò và hát dân ca. Điểm nổi bật của cô là sự cầu tiến, lòng đam mê âm nhạc và sự tính bền bĩ trong luyện tập.

Lập gia đình và định cư tại vùng Vịnh San Francisco từ năm 2000, Vân Ánh tập trung sự nghiệp vào việc cộng tác với các nghệ sĩ đến từ nhiều thể loại nhạc khác nhau để sáng tác những tác phẩm mới mẻ, đem nhạc Việt truyền thống tới người nghe rộng rãi hơn, và bảo tồn di sản văn hóa Việt Nam trong nghề dạy học.  Những tác phẩm đáng kể của cô bao gồm nhạc nền cho phim tư liệu Bolinao 52, giải thưởng Emmy năm 2009 mà cô sáng tác chung và thu âm; nhạc nền cho phim Daughter of Danang (Người Con Gái Đà Nẵng) đã được chọn tham gia giải Academy Awards năm 2003 mà cô sáng tác chung và thu âm.  Gần đây hơn Vân Ánh cũng đã sáng tác chung và thu âm cho phim tư liệu mới là A Village Called Versailles (Một làng tên Versailles) được nhận giải thưởng khán giả bình chọn của New Orleans Film Festival. Sau đó, Vân Ánh đã thu thanh cùng The Kronos Quartet bài "Don' Think Twice, It's All Right" được phát hành trên bộ đĩa Chimes of Freedom: Songs of Bob Dylan Honoring 50 Years of Amnesty.

 

Tháng 5 năm 2012, Vân Ánh được hân hạnh làm khách mời cho buổi hòa nhạc cùng nhóm tứ tấu lừng danh The Kronos Quartet tại Novellus Theater - San Francisco. Được biết trong gần 40 năm, tứ tấu Kronos là một trong những nhóm nổi tiếng nhất và có ảnh hưởng của thời đại, thực hiện hàng ngàn các buổi hòa nhạc trên toàn thế giới, phát hành hơn 45 bản thu âm, ra mắt hơn 750 tác phẩm mới, và cộng tác với các nghệ sĩ nổi tiếng từ mọi nơi.

Vân Ánh cho biết: “David Harrington, thủ lĩnh của ban tứ tấu đàn dây Kronos, đã khuyến khích tôi nên kết hợp những âm thanh khác nhau mà có thể diễn tả được sự đặc trưng của tiếng nói, văn hóa và lịch sử nước Việt.  Khi cộng tác làm việc với nhau, chúng tôi đã tìm hiểu rất nhiều các nhạc cụ khác nhau và truyền thống của nền nhạc Việt.  Việc đi tìm kiếm âm thanh để sử dụng trong tác phẩm “All Clear” đã cho tôi cơ hội để đi tới nhiều tỉnh, vùng ở Việt Nam để thu lại âm thanh và các câu chuyện của dân địa phương. Qua một năm rưỡi cộng tác và “thai nghén” cho ý tưởng của bản nhạc, tôi có thể nói “All Clear” là  một tác phẩm đồng sáng tác giữa David Harrington và tôi.”

Về phần David Harrington, ông nhận xét như sau:

 

“Lâu lắm rồi tôi đã muốn Kronos khai thác thế giới âm nhạc Việt Nam. Nhưng do nền văn hóa sống động ấy rất phức tạp đối với tôi và do sự đa dạng của đời sống nhạc Việt cũng làm tôi mê mẫn.  Tôi biết đến sự nghiệp Vanessa Võ Vân Ánh lúc cô tự giới thiệu mình tại một buổi biểu diễn gần đây ở Đại học Stanford.  Vân Ánh biết chơi nhiều loại đàn dân tộc, ca hát, sáng tác, và có một tầm hiểu biết lớn về các truyền thống Việt Nam.  Tôi đã cảm thấy như tìm được một người chỉ đường thông thạo về đời sống, lịch sử và âm nhạc Việt Nam.  Cùng với nhau, chúng tôi khám phá, xây dựng khái niệm và ý tưởng cho một bản nhạc mới.

Vân Ánh và tôi bắt đầu bằng việc nghe các thể loại nhạc khác nhau trong tang lễ Việt Nam.  Tôi có cảm giác như tiếng đàn bầu, một cây đàn một dây được điều khiển bằng một thanh nhỏ làm bằng sừng trâu để tạo nên âm thanh, được sáng tạo riêng cho nhạc tang lễ.  Chúng tôi muốn dùng các loại nhạc cụ khác nhau đến từ Việt Nam và Tây phương để kể một câu chuyện bằng âm nhạc. Câu chuyện này cũng được kết nối bằng những bài thơ của Hồ Xuân Hương (1772-1822). Một nữ thi hào kiệt xuất sinh ra trong thế kỷ 18th nhưng chứa đựng cái nhìn của một phụ nữ của thể kỷ 21st. Những bài thơ của bà đều mang nhiều tầng lớp, nhiều ý nghĩa mà giống như nhiều bài thơ trong một bài thơ. Những bài thơ này cũng tràn đầy hình ảnh khát khao và nhớ nhung đầy nữ tính cộng với các cảnh đời thường.  Vân Ánh đã thu và sưu tầm các âm thanh ở Việt Nam mà chúng tôi sử dụng đến để dệt một mảng âm thanh - một cửa sổ nhìn vào văn hóa và xã hội Việt Nam.  Bản nhạc này đã được xây nên từ "nền" âm thanh này.”

Vào ngày 11 và 12 tháng 5 năm 2012, Vân Ánh được hân hạnh làm khách mời cho buổi hòa nhạc mang tính chất thế giới cùng nhóm tứ tấu lừng danh The Kronos Quartet tại Novellus Theater - San Francisco - với phần biểu diễn tác phẩm đồng sáng tác với David Harrington "All Clear" mang đầy tư liệu và di sản Việt.

Bạn sẽ được xem một tà áo dài cùng những nhạc cụ dân tộc Việt nối nhịp Đông Tây đầy màu sắc trong âm nhạc đương đại. Vân Ánh không đơn độc trong cuộc hành trình âm nhạc này bảo tồn di sản văn hóa Việt và mở rộng biên giới cho nhạc cụ đầy tình tự dân tộc của người Việt Nam.

Trúc Hà

 
Published in Âm Nhạc
Saturday, 12 May 2012 18:28

Anh Ba Sài Gòn & Hồn Pháp Luật

Anh Ba Sài Gòn.

 

Tranh Babui

 

Từ trái qua: Song Chi, Phương Thi, blogger Trăng Đêm, blogger Điếu Cày, blogger Huỳnh Công Thuận, nhà thơ Bùi Chát và blogger Đông A SG. Ảnh: Blog cũ Nguyễn Tiến Trung.

 

 

Pháp luật là kết tinh trí tuệ và lương tri của cả nhân loại. Một vài cá nhân, lúc này hay lúc khác, có thể sử dụng nó cho các mục đích phi nhân đạo, nhưng chừng nào trí tuệ và lương tri còn tồn tại, thì pháp luật vẫn còn có đầy đủ giá trị của nó, nó vẫn sẽ được bảo vệ.

-Nguyễn Thị Từ Huy 

 

Có bữa, tôi nghe Anh Ba Sài Gòn bỏ nhỏ: “Đã là dân tất nhiên người ta có thể kể ra hàng ngàn chuyện buộc phải ‘bỏ qua’ nhưng giá như có một lời xin lỗi, chỉ một lời thôi ...”

 

“Ví dụ như ngư dân đánh cá đã không được bảo vệ trên ‘biển của mình’ và tuyệt vọng khốn cùng vì bị quân giặc bắt giữ đòi tiền chuộc. Ví dụ như 70 người dân Phú Yên bất ngờ thiệt mạng trong một đêm vì mưa lớn kèm thủy điện đồng loạt xả lũ. Ví dụ như hàng triệu người dân đang sống trong những khu quy hoạch treo vài chục năm. Ví dụ như hàng vạn lá đơn khiếu nại chưa được giải quyết thỏa đáng. Ví dụ như những con đường ngốn vài trăm tỷ tiền dân ‘vừa chạy thử đã hỏng’. Ví dụ như hàng trăm lô cốt khiến dân tình hàng ngày kẹt xe dài cổ hít khói bụi... Hay gần đây nhất là chuyện của một người thầy giáo ‘đương thời’ trở thành ‘hết thời’ chỉ vì mong muốn làm một ông thầy thực sự lương thiện. Có thấy ai xin lỗi ai gì đâu?”

 

Nghe rồi, tất nhiên, tôi chỉ cười trừ (và cười buồn) thôi. Cái nước mình nó thế mà. Anh Ba, chả qua, bức xúc quá mà xả bầu tâm sự (chút xíu) vơi bớt nỗi sầu nhân thế, thế thôi. 

 

Tưởng thế nhưng không phải thế. 

 

Không bao lâu sau, vào hôm 18 tháng 10 năm 2010, Ba Sài Gòn bị tó. Tôi lại chép miệng thở dài: “Cái nước mình nó thế!” Ở một đất nước mà mọi công dân đều có thể là những tù nhân dự khuyết thì triệu tập hay bắt bớ (lai rai) là chuyện thường ngày vẫn xẩy ra thàng ngày, ở huyện. Chắc cũng chỉ phải “làm việc” độ vài ba hôm, hay nhiều lắm là vài ba tháng  –  “để làm rõ một số vấn đề” – vậy thôi. 

 

Tưởng vậy nhưng cũng không phải vậy. Anh Ba bị nhốt luôn gần hai năm trời. Mãi tới ngày  tháng 14 tháng 4 năm 2012, mới thấy báo Người Lao Động loan tin rằng cùng với hai bị can khác – ông Nguyễn Văn Hải và bà Tạ Phong Tần – Ba Sài Gòn “bị truy tố tội Tuyên truyền Chống Nhà nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam” vì đã  “xuyên tạc, châm biếm, đả kích, tỏ thái độ chống đối gay gắt Đảng Cộng sản Việt Nam.”

 

Trời! Nói gì nghe thấy ghê vậy, mấy cha? 

 

Coi: anh Ba chỉ đưa ra nhận xét là hai chữ “xin lỗi” không có trong tự điển của giới người cầm quyền ở Việt Nam, văn hoá ứng xử của họ “không có cái vụ xin lỗi,” vậy thôi. Đây là một nhận xét này hoàn toàn khách quan và chính xác, chớ có dám “xuyên tạc, châm biếm, đả kích, tỏ thái độ chống đối gay gắt” ai đâu? Dù vậy, vẫn theo bài báo thượng dẫn, Ba Sài Gòn “đã nhận tội và có đơn xin khoan hồng, xem xét giảm nhẹ hình phạt.”

 

Anh Ba thiệt là biết điều hết sức. Mà không phải đợi tới lúc này Ba Sài Gòn mới biết chuyện như vậy đâu nha. Trước đó, khi luận bàn về “Tội Bất Kính Với Vua Và Điều 88 BLHS” – vào ngày 24 tháng 3 năm 2009 – ảnh cũng đã tỏ ra nhũn nhặn vô cùng:

 

“Ở hầu hết các nước có thể chế Cộng hòa thì những hành vi biểu lộ sự không đồng ý, chỉ trích, phê phán nhà nước đều là bình thường. Ngay cả hành vi phản kháng có tính quy mô và nguy hiểm nhất đối với chính phủ hiện hữu là sự thành lập một Đảng phái chính trị đối lập [với Đảng cầm quyền] thì cũng không hề bị cấm đoán.

 

Vâng đấy là chuyện ở nước người... ta chớ có nên hào hứng quá mà tưởng bở!”

 

 

 

Ba Sài Gòn – rõ ràng – rất hiểu thân phận, cũng như hoàn cảnh xã hội của mình nơi mà chính anh đã long trọng cảnh báo rằng: “Phần hồn của pháp luật Việt Nam bị đe dọa nghiêm trọng.”

 

Thế nào là “phần hồn của pháp luật”? 

 

Với tư cách là một luật gia, anh Ba luận giải một cách hùng hồn, rành mạch và khúc triết – như sau:

 

“Hồn pháp luật không chỉ đơn thuần là ý thức pháp luật trong mỗi công dân, nó là sự mặc nhiên thừa nhận, tin tưởng và thượng tôn vào lẽ phải và công lý, vào sự đúng đắn, công bằng, bình đẳng mà pháp luật đang đại diện. Được sống trong một xã hội có pháp luật là được hưởng thụ một sự an toàn và bình yên. Trong xã hội mà pháp luật được thượng tôn thì các giá trị tự do, dân chủ, nhân quyền đương nhiên được pháp luật bảo đảm.

 

Thành quả của cách mạng, giá trị cơ bản của đạo đức, tư tưởng tiến bộ nhất của một dân tộc, nguyên khí của những bậc hiền tài và sự chắt lọc tinh hoa văn hóa nhân loại đều được kết tinh nơi pháp luật. Chính nhờ có nền pháp luật ổn định mà dân chúng được yên vui, văn chương nghệ thuật được bày tỏ, kinh tế được phát triển, môi trường sống, lãnh thổ được bảo vệ và quốc gia trở nên hùng cường.

 

Khi dân chúng tôn thờ pháp luật và tự nguyện tuân theo thì công việc của công quyền không còn nặng tính cai trị cưỡng ép, các thủ tục hành chính không còn ai kêu ca. Khi họ thừa nhận pháp luật công bằng thì đất đai giải tỏa cũng không mấy ai khiếu kiện chống đối. Chỉ còn lại những người hiểu việc, hiểu trách nhiệm của mình mà làm, quan là kẻ làm thuê cho dân nên quyền uy và khoảng cách giữa quan và dân không phải là điều đáng e sợ…

 

Tuy nhiên, nếu thiếu phần hồn cao đẹp, thì pháp luật chỉ còn trơ ra thân xác phì nộn của một tên bạo chúa đầy sức mạnh nhưng chỉ phụng sự cho sự tham lam, độc ác và cảm tính của chính hắn mà thôi.

 

Có thể nói phần hồn hay khía cạnh tinh thần chính là sức mạnh cốt yếu nhất của pháp luật chứ không phải phần vật chất với hàng vạn điều cấm đoán mà dân chúng không tự nguyện thi hành.

 

“Phần hồn” của pháp luật Việt Nam bị đe dọa nghiêm trọng

 

Bởi được gán cho các đặc tính thượng tôn và cao quý nên hồn pháp luật rất nhạy cảm với sự vấy bẩn, chê bai, phỉ báng và nhất là khi nó bị một thứ quyền lực khác đè lên trên đầu. Các xác kềnh càng của pháp luật với đủ thứ trang bị vũ lực, phạt vạ, nhà tù càng trở nên nguy hiểm khi phần hồn của nó bị ma quỷ nhập vào.

 

- Hệ thống tư pháp bị phát hiện là thiếu tính độc lập, bị quyền lực chỉ đạo trước khi điều tra, xét xử… khiến cho hồn pháp luật hoảng sợ phải đi trú ẩn.

 

- Pháp luật bị quan chức lạm dụng thành đại lượng đổi chác và tham nhũng. Súng ống để phụng sự cho pháp luật lại trở thành công cụ dọa nạt và đem bắn vào dân chúng chưa rõ tội tình gì. Mới đây ở Hà Nội chỉ trong một tuần mà có đến hai cái chết ở trong đồn công an đều do bị đánh. Tìm kiếm trên Google cụm từ “công an đánh dân” sẽ ra hàng trăm ngàn kết quả với những tin tức, hình ảnh ghê hồn.

 

Sự lạm quyền khiến cho hồn pháp luật bị tha hóa.

 

- Ở Việt Nam không những có ‘dân oan’, mà còn có những ‘nhà báo oan’, ‘nhà thơ oan’, ‘nhà văn oan’, ‘luật sư oan’, ‘doanh nghiệp oan’ và ‘blogger oan’… ở khắp nơi. Dân oan mất đất mất nhà, nhà báo bị vào tù oan vì đưa tin chống tham nhũng, văn nghệ sĩ bị tước đoạt giải thưởng, bị vào sổ đen không cho đăng bài viết, bị buộc phải dẹp bỏ trang web cá nhân, luật sư bị tước thẻ hành nghề, doanh nghiệp bị phá sản, blogger bị bắt bớ, tù tội… Sự oan ức hằn sâu vào tư duy con người chính vì pháp luật không được thực thi đúng đắn.

 

Sự oan ức khiến cho hồn pháp luật bị teo tóp lại.

 

- Bao nhiêu đơn thư khiếu nại, tố cáo chỉ là thứ nước đổ đầu vịt, bặt vô âm tín không được trả lời, thậm chí chỉ có đi nộp đơn và xin cái chữ ký đã nhận đơn mà đã bị gây khó khăn. Có người may mắn được trả lời thì lại vướng vào tình trạng trên bảo dưới không nghe, bị kẻ thi hành phớt lờ như không. Nhiều ngàn lá đơn khiếu nại chưa được giải quyết, có người làm hàng trăm tờ đơn khiếu nại lên nhiều cấp, kiên trì từ đời cha ông đến đời con cháu mà chưa biết công lý rốt cục có hình dáng như thế nào…

 

Sự im lặng và vô cảm của những người có thẩm quyền khiến cho hồn pháp luật trở nên thờ thẫn.

 

- Những dự án bô-xít gây nguy hại cho môi trường, cho an ninh quốc gia được thông qua bất chấp sự phản đối của hàng ngàn trí thức. Rừng đầu nguồn và phòng hộ biên giới được dễ dãi giao cho người Trung Quốc với giá rẻ mạt. Lãnh hải bị đe doạ, cuộc mưu sinh và sinh mạng của ngư dân trên biển không đảm bảo, những danh từ méo mó như “tàu lạ”… khiến cho hồn pháp luật bị nghi ngờ.

 

- Quần chúng tự phát dùng bạo lực, lưu manh côn đồ đánh đập sư sãi, dân thường ngay trước mặt công an… khiến cho hồn pháp luật dường như bị ma ám...

 

Tất cả những hành động và lối suy nghĩ ấy đã đầu độc và hủy hoại hồn pháp luật nhanh chóng khiến nó lâm vào tình trạng hấp hối...”

 

 

Tôi hoàn toàn không đồng ý với anh Ba về câu kết luận bi quan vừa dẫn. Phần hồn của pháp luật có thể bị đe doạ, tổn thương hay toi tóp nhưng luôn luôn hiện hữu và  sống mãi với chúng ta.

Không cần tìm đâu xa, người ta có thể tìm thấy được phần hồn pháp luật ngay trong gia đình Basg, qua lời trưởng nữ của anh – cháu Phan Ngọc Minh: “Bố con chỉ có một cái tội duy nhất là yêu nước.”

 

Dù anh Ba có “nhận tội” và “xin khoan hồng” chăng nữa, “phần hồn pháp luật” trong con tim nồng nhiệt và chân chính của anh vẫn sẽ mãi đậm nét với thời gian. [TNT]

 

 

Published in Viết từ Saigon
Page 1 of 3

 

 

Articles View Hits
719238
VietTribune.com is an online newspaper owned by Viet Tribune Media Corporation. All rights reserved. 2012