A+ A A-

Đọc một số Tuyển tập Văn chương Nữ Việt Nam sau 1975

 

 

 

Phấn son tô điểm (hay không tô điểm) sơn hà*:

 

 

 

NGUYỄN TÀ CÚC

 

 

 Kỳ 4 / trong 4 kỳ

 

 

 Thật là hết sức đáng tiếc khi bày ra giai thoại hay trích dẫn thơ văn liên quan đến một nữ lưu kiệt hiệt như Thụy An mà tài liệu của bà Như Hiên quá nghèo nàn và quá sai sót. Chẳng lẽ bà Như Hiên không biết gì hết về vụ Nhân Văn-Giai Phẩm, một vụ án chấn động Miền Bắc lan qua tới Miền Nam và đã được các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước bàn luận sôi nổi trở lại trong thời gian gần đây? Viết như bà Như Hiên là tước đoạt sự can đảm khác thường của Thụy An, là biến một người đàn bà dũng cảm đã chịu tù đầy 12 năm vì không chịu đầu hàng bạo lực thành một người bệnh tật chỉ biết vương vấn với nỗi sầu tình riêng tư. Viết như thế cũng là không phản ảnh được một sự kiện chính trị đã có ảnh hưởng quá quan trọng với văn học Miền Bắc, nghĩa là cả với lịch sử Việt nam. Nội một vụ này thôi đã chứng tỏ cuốn Nữ Sĩ Việt Nam là một cuốn sách không thể tin cậy được và quả là ông Trương Minh Đạt đã không nặng lời khi trách mắng bà Như Hiên rằng “Làm văn học theo cách của tác giả NSVN quả là có tội với văn học và lịch sử.” Ngoài vụ Nhân Văn-Giai Phẩm, lẽ ra cần nên nói nhiều hơn về nội dung của hai tờ báo mà Thụy An đã chủ trương như những bài xã luận mà Tiến sĩ Vân Chi đã nêu ra như “Dân chủ? Độc tài? Quân chủ lập hiến? trong ba chánh thể ấy nên chọn  chánh thể nào?” trên Đàn bà mới hay cuộc thi viết về “Người đàn bà kiểu mẫu” trên Đàn bà. Nhà văn Tô Hoài thuật lại việc hai anh em nhà viết kịch Trúc Đường và nhà thơ Nguyễn Bính đã có bài đăng trên Đàn bà thế nào và báo này có một mục đặc biệt ra sao:

 

 

 

-“Những năm trước 1945, Trúc Đường kiếm sống bằng nghề sửa bài in cho nhà in Lê Cường. Anh còn kiêm làm báo Đàn bà. Cũng là tình cờ mà anh làm báo ấy. Chỉ vì báo Đàn bà in ở nhà in Lê Cường […] Trên báo Đàn bà còn có một mục lạ kiểu hơn tất cả các báo lúc ấy. Đó là mục nhắn tin mua hàng hộ bạn đọc. Các bà các cô đọc báo Đàn bà có thể là người phong lưu ở tỉnh xa, gặp thời buổi chiến tranh, cái gì cũng khan hiếm, son phấn, vải vóc và mọi thứ trang sức đều kh1o tìm khó mua. Báo Đàn bà đứng ra làm việc ấy, môi giới hoặc mua hộ rồi thiến tiền hoa hồng. Cái mục mua hàng giúp bạn đọc mỗi kỳ dài mấy cột chứ không ít. Chủ báo Đàn bà thuê Trúc Đường cáng hai trang văn thơ ở giữa báo. Vì vậy, thời kỳ này, ở Huế hay ở Sài Gòn, hấu hết thơ Nguyễn Bính đều gửi về báo Đàn bà ở Hà Nội. Trúc Đường viết truyện…Trên báo Đàn bà nhiều truyện ngắn và in từng kỳ tiểu thuyết Sen tịnh đế.” (Tô Hoài, Những gương mặt chân dung văn học, trang 113-114, Nhà xuất bản tác phẩm mới-Hội Nhà văn Việt Nam, 1988.)

 

 

 

Ngoài mục ấy, cũng theo Tiến sĩ Đặng Thị Vân Chi thì còn có một mục gọi là “Chuyện riêng” “dành để giải đáp các thắc mắc về tình cảm riêng tư của phụ nữ, cũng như là nơi để phụ nữ tâm sự bày tỏ những uẩn khúc trong tình cảm và quan hệ hôn nhân”.

 

 

 

Qua những hoạt động của Thụy An đã được trình bầy ở trên, người viết muốn đặt thêm một vấn đề nữa: những tin tức sai lạc –như của bà Như Hiên dù vô tình—cần được làm cho sáng tỏ để bênh vực và minh oan cho một phụ nữ chống Cộng mà cho đến nay nhà cầm quyền Cộng sản xem ra vẫn còn muốn gieo “nhiều tiếng dữ”. Thụy An là người phụ nữ duy nhất từng bị giam cầm trong vụ Nhân Văn-Giai phẩm mà cho đến nay vẫn chưa được Hà nội gián tiếp nhận lỗi như đã làm với Hoàng Cầm, Lê Đạt. Ông Bùi Nhung, chồng cũ của bà, từng tìm cách minh oan cho bà về vụ án đầu độc người tình Đỗ Đình Đạo thì bản thân cũng từng bị khốn đốn vì Cộng sản. Khi ông nhận chức Giám đốc Đài “Tiếng Nói Việt Nam” từ Thủ tướng Nguyễn Phan Long, cậu con trai 1 tuổi của ông bị người Cộng sản cho bắt cóc. Trong cuốn hồi ký Thối Nát (xuất bản ở Sài Gòn không rõ năm, khoảng cuối những năm 1960), ông có đăng hình Thụy An với dòng chữ chú dưới: “Nữ sĩ Thụy An, nhũ danh Lưu Thị Yến, nạn nhân của Việt Minh Cộng sản. Bà thuộc nhóm “nhân văn” của cụ Tú Phan Khôi. Hiện bà bị V.M. cầm tù tại Bắc Việt…” (trang 129, sđd) và thuật lại rằng ông đã ra vùng Việt Minh (khoảng 1954) “thăm bà Thụy An, vợ cũ, để hỏi ra cho ngành ngọn cái chết của anh Đỗ Đình Đạo, mà tất cả báo chí đổ diệt cho bà là thủ phạm.” (trang 199, sđd) Sau 1975, hầu như bà bị bỏ quên. May mắn thay, bà đi học tiếng Anh với dịch giả Nguyễn Ngọc Chính và người thày tốt bụng này dịch thơ cho bà và đã cho chúng ta biết về phần đời cuối của Thụy An tại Sài Gòn:

 

 

 

-“Năm 1973, bà Thụy An cùng với Nguyễn Hữu Đang được thả trong diện “Đại xá chính trị phạm trong hiệp định Paris”. Bà làm đơn xin vào Nam sinh sống để hy vọng được đoàn tụ với các con tại nước ngoài và đó cũng là lý do tôi trở thành người kèm Anh văn cho bà (5).

 

 

 

Trong thời gian đầu khi bị giam giữ chờ ngày ra tòa, bà đã vượt qua mọi hình thức cân não, đấu tranh tư tưởng của cán bộ chấp pháp. Tuy nhiên, theo lời bà, sự căng thẳng duy nhất, khó vượt qua nhất, lại là tiếng giọt nước nhỏ đều đều suốt đêm từ robinet đâu đó vang đến phòng giam. Từng giọt… từng giọt… suốt đêm này qua đêm khác khiến thần kinh căng lên như giây đàn giữa đêm thanh vắng…Những ngày cuối đời, bà Thụy An sống cô đơn trong gian nhà nhỏ thuê gần đường Bùi Hữu Nghĩa, bên hông chợ Bà Chiểu, Sài Gòn. ‘Bạn vong niên’, theo lời bà vẫn thường nói đùa, chỉ có tôi năng lui tới. Mang tiếng là kèm cho bà tiếng Anh nhưng thực ra công việc quan trọng nhất của tôi là chuyện trò với bà và dịch một số thơ của bà sang tiếng Anh. Đa số là trường ca lục bát kể lại những chuyện xưa như Thiếu phụ Nam Sương, Truyện trầu cau, Hòn vọng phu… Tôi đã bỏ ra rất nhiều công sức để dịch những trường ca của bà sang thơ bằng tiếng Anh[…]Nữ văn sĩ Thuỵ An mất tại Sài Gòn năm 1989 khi chưa kịp sang Hoa Kỳ đoàn tụ cùng con cái. Đám tang của bà chỉ có vài người họ hàng thân thuộc và chòm xóm. Tôi nghĩ bà mất trong niềm hy vọng đoàn tụ là một đoạn kết có hậu (happy ending) vì nếu còn sống, niềm hy vọng đó sẽ mỏi mòn đối với một bà cụ sau khi đã cống hiến quãng đời 15 năm và một con mắt tại trại cải tạo Lý Bá Sơ ngoài miền Bắc.  Hình như chúng ta vẫn nợ Một Lời Kết về bà Thụy An. Những người trong cuộc đã minh oan cho bà, vấn đề còn lại là trả lại danh dự cho một người đã khuất.” (Nguyễn Ngọc Chính, http://nguyenngocchinh.multiply.com/)

 

Cái danh dự ấy người Cộng sản có thể không muốn trả, nhưng người không Cộng sản có thể giữ cho chân dung bà được vẹn toàn bằng cách viết cho chính xác về bà.

 

 

 

Những thí dụ trên đây đủ cho thấy cuốn Nữ Sĩ Việt Nam: Tiểu sử&Giai thoại Cổ -Cận-Hiện đại (Hiện đại phần 1) khó thể làm được những điều mà bà Mộng Tuyết giới thiệu: “Tác giả đã làm một việc chuyển hóa tư tưởng qua nhiều thế hệ để đi đến đúc kết hệ thống toàn bộ lịch sử văn học nằm trong nền văn hóa Viêt Nam” (trang 6, sđd). Chưa cần nói đến “toàn bộ lịch sử văn học” vội, cuốn sách này chỉ mới phản ảnh hết sức hạn hẹp cái thế giới riêng tư và nhỏ nhoi của tác giả. Những thế hệ đi sau đọc cuốn này sẽ chỉ biết đến loại văn chương mà bà Như Hiên và số người do bà đem vào làm đại diện và sẽ chỉ biết đến số phụ nữ chọn Cộng sản là lý tưởng, nhưng sẽ không bao giờ có thể tưởng tượng nổi một Miền Nam tự do với ít nhất là năm phụ nữ với văn chương đã có lúc sánh vai được với nam giới trong sức thu hút độc giả. Tác phẩm của họ đã cùng nhiều tác giả khác ghi lại tâm tình phụ nữ của một nửa nước trong cả một thời thế, nhất là một thời biến loạn. Cũng chính vì sự biến loạn ấy mà người làm tuyển tập càng nên công bằng. Cuộc đời thơ văn của Thụy An là trường hợp cho thấy rõ nhất cái sợi dây vô hình giữa người cầm bút và thời thế. Người đi sau lần theo sợi dây để trở về một nơi đất cũ “rực rỡ ban mai” hay “thăm thẳm đêm trường.” Chúng ta, những người còn là nhân chứng, phải làm sao cho đất cũ khỏi biến dạng theo những người biên soạn cố ý hay vô tình không chịu viết sự thực về cái thời thế rực rỡ ban mai hay thăm thẳm đêm trường ấy.  Trong những số tới chúng tôi sẽ viết rõ thêm về Thụy An và một vài tác giả nữ khác để góp vào phần tài liệu cho đầy đủ và chính xác hơn.

 

 

 

Người viết dĩ nhiên hoan nghênh sự góp ý của những tác giả đã được nhắc đến trong bài. Văn học Miền Nam và Văn học Phụ nữ Việt Nam là một lãnh vực khó khăn cho bất cứ ai muốn khảo cứu vì vấn đề tài liệu. Trong tinh thần ấy, người viết—vốn rất quan tâm về tình cảnh của phụ nữ -- xin quý độc giả xa gần chỉ cho những sai lầm để sửa chữa. [NTC]

 

 

 

Hoàn chỉnh ngày 12.3.2012

 

 

 

CHÚ THÍCH

 

*Tiêu chí của Tuần báo Phụ nữ Tân văn, Sài gòn

 

**Người viết xin được cảm tạ Tiến sĩ Sử học Đặng Thị Vân Chi (VN), Hội Thánh Tin Lành VN và dịch giả Nguyễn Ngọc Chính (VN) vì những tài liệu hay hình ảnh đặc biệt mà người viết đã mạn phép sử dụng trong bài này. (Nhà Xuất bản Khoa học Xã hội  đã phát hành cuốn Vấn đề phụ nữ trên báo chí tiếng Việt trước năm 1945 của TS Đặng Thị Vân Chi vào năm 2008)

 

 

 

1) Theo lời giới thiệu của nhà xuất bản (trang 8, sđd) thì cuốn Tuyển Thơ Tác giả Nữ Việt Nam chính ra có tên là Tuyển tập thơ của các tác giả Nữ Việt Nam từ thế kỷ X đến thế kỷ XX.

 

 

 

2)Xin góp thêm tài liệu nếu như chưa ai nhắc đến: Nhà thơ Nhàn Khanh qua đời năm 1924 theo bài Từ quyển Nữ lưu Văn học sử của ông Sở Cuồng đến quyển Đại Việt Văn học Lịch sử của ông Nguyễn Sỹ Đạo (Long Điền Nguyễn Văn Minh, Tạp chí Tri Tân 1941-1946: Các bài viết về Lịch sử và Văn hóa Việt Nam, trang 421, Nguyễn Quang Ân, Phạm Đình Nhân, Phạm Hồng Toàn sưu tầm và tuyển chọn, Trung tâm thông tin tư liệu lịch sử & văn hóa VN xuất bản., Hà Nội 2000). Bà là thân mẫu của dịch giả Trịnh Đình Rư (1893-1962) theo Lược truyện các tác gia Việt Nam, Trần Văn Giáp, Nguyễn Tường Phượng, Nguyễn Văn Phú và Tạ Phong Châu biên soạn, Nhà Xuất bản Khoa học Xã hội, Hà nội 1972, trang 143).

 

 

 

3) Phan Khôi xác nhận việc ông tham dự công trình dịch Kinh Thánh Tin Lành qua một bài điểm báo có tên “Giới thiệu và phê bình Thánh kinh báo” đăng trên Phụ nữ Tân văn số 74 ra ngày 16.10.1930: “Sau hết, tôi xin có lời cảm ơn ông bà mục Sư Cadman đã gởi tặng tập báo nầy cho tôi. Vì tôi làm chung việc dịch Kinh thánh với ông trong 5 năm (1920-1925)…” (Lại Nguyên Ân sưu tập và biên soạn, Các tác phẩm của Phan Khôi  đăng báo năm 1930, http://lainguyenan.free.fr/pk1930/thanhkinh.html). Còn về phần Hội Thánh Tin Lành thì Mục sư Tiến sĩ Lê Hoàng Phu cũng đã công nhận tương tự trong cuốn Lịch sử Hội Thánh Tin Lành Việt Nam. Ngoài ra, người viết đã từng thấy một cuốn Kinh Thánh Tin Lành tái bản vẫn có ghi rõ tên Phan Khôi là người dịch cùng Cadman ở Sài gòn năm 1972. Tác giả Nguyễn Đình Bùi Thị - (Thăng Bình, Quảng Nam) đã ghi lại là khi ông đến thăm năm 2009, bia mộ phần tác phẩm của Phan Khôi có đề rõ “Kinh thánh 1920-1925”. (http://hoithanh.com/Home/100-nam-tin-lanh-vn/1620.html)

 

 

 

4)Ba dấu chấm lửng (…) nối hai câu này là của bà Như Hiên

 

 

 

5)Dịch giả Nguyễn Ngọc Chính cũng đưa ra ánh sáng một chi tiết quan trọng để đính chính nguồn tin sai lạc về khả năng Anh văn của Thụy An mà người viết nghĩ đã được bịa đặt để thêm tội làm gián điệp cho bà. Theo ông Chính, bà Thụy An không biết tiếng Anh như lời đồn đãi: “Tuy nhiên phải nói lại cho đúng: Đây là chi tiết sai sự thật vì nếu bà Thụy An có trình độ tiếng Anh như ông Tô Hải mô tả thì chắc chắn tôi là người phải xin thọ giáo bà chứ không phải là người giúp bà học những câu như ‘How are you?’ hoặc ‘My name is Yến’” (http://nguyenngocchinh.multiply.com/) Bởi thế, nếu Thụy Khuê cũng căn cứ vào “lời thú tội” của nhà thơ Phùng Quán để viết trong “Chương 8-Thụy An” rằng: Thụy An dạy Phùng Quán học tiếng Pháp và tiếng Anh” (http://thuykhue.free.fr/stt/n/nhanvan08.html.) thì cũng là không đúng nốt.

 

 

 

 

 

Articles View Hits
719412
VietTribune.com is an online newspaper owned by Viet Tribune Media Corporation. All rights reserved. 2012