A+ A A-

 Nhìn một con người trong hiện tại, chưa chắc chúng ta nói được gì nhiều về tương lai của người đó, nhưng nhìn một con người trong hiện tại, chúng ta có thể suy đoán được ít nhiều điều về cuộc sống thuở thiếu thời của người đó. Và do đó, để hiểu hay để giải thích về một con người hiện nay, rất nhiều khi ta phải nhìn lại vài năm trước, hay vài chục năm trước, khi nhân vật của chúng ta đang mài đủng quần ở các trường trung học, hay thênh thang trên các sân trường đại học, để xem làm sao cách người này sống, cách người này suy nghĩ, có thể là những dấu hiệu báo trước cho sự lựa chọn tương lai của người đó.

Năm 1972, Giáo sư chính trị James David Barber của trường Đại học Duke đã hoàn thành tác phẩm “Tính khí của tổng thống” (Presidential Character), đưa ra luận điểm những gì người ta đã và đang ghi nhận về các Tổng thống John F. Kennedy, Lyndon B. Johnson hay Richard M. Nixon… đều có thể hiểu được nếu chúng ta xét đến hoàn cảnh lớn lên của từng người đã góp phần hình thành tính khí riêng của họ. Luận điểm này không có gì mới thực sự, nhưng cuốn sách hấp dẫn vì công trình nghiên cứu liên hệ chặt chẽ những quyết định lịch sử của những tổng thống này với những hoàn cảnh phát triển riêng tư của mỗi người.

Trong một hai tuần qua, có hai bài báo đặc biệt được dư luận thích thú để ý, mặc dù nó chẳng liên quan gì đến những chuyện thời sự nóng bỏng dồn dập đang xảy ra ở Mỹ, ở châu Âu, ở Trung Đông, ở vùng Thái Bình Dương… Một bài báo có nhan đề “Becoming Obama” trên tạp chí nguyệt san Vanity Fair sang cả, mà người viết là ông David Maraniss, một nhà báo cũng là một tác giả tăm tiếng về nghiên cứu lịch sử hiện đại. Bài báo này dài đến 8.500 chữ, thực ra, chỉ nhằm giới thiệu một vài trích đoạn trong cuốn sách của ông sẽ được phát hành vào ngày 19-6 tới đây, có tựa “Barack Obama, A Story”, kể những câu chuyện về thuở thiếu thời của ông khi còn đi học và chuẩn bị bước vào đời. Người ta chú ý bài báo này là vì tác giả đề cập đến hai mối tình lớn của ông cùng với những suy nghĩ, trăn trở của chàng thanh niên này trong buổỉ giao thời giữa mới lớn và trưởng thành. Bài báo kia xuất hiện trên tờ Washington Post vào ngày 10-5, có tính cách “điều tra” hơn, với tựa là “Mitt Romney’s prep-school classmates recall pranks, but also troubling incidents” (Những bạn học cũ của Mitt Romney lớp dự bị đại học nhắc lại những trò đùa độc ác, nhưng cũng là những vụ đáng phiền), người có công tìm hiểu là nhà báo Jason Horowitz kỳ cựu. Tựa của bài báo đã nói lên hết nội dung của câu chuyện “đời học sinh” của Mitt Romney, dĩ nhiên có sức lôi cuốn mãnh liệt với người đọc, bởi vì người ta khó tưởng được ông Romney hôm thứ Bảy tuần trước còn rao giảng tại một trường đại học Cơ Đốc giáo: người ta phải sống với niềm tin ở Chúa và niềm tự hào vào nước Mỹ, cách đây 47 năm, khi đã 18 tuổi, từng đè đầu đè cổ một người cùng trường, xởn tóc người ta để dằn mặt.

 

 

Ủng hộ viên của TT Barack Obama.Getty Images

 Cuộc bầu cử tổng thống năm nay đã chuyển qua một giai đoạn mới. Vòng sơ bộ của đảng Cộng Hòa tuy đến cuối tháng Sáu mới chính thức chấm dứt, nhưng thực ra sau khi ông Rick Santorum, cựu thượng nghị sĩ của tiểu bang Pennsylvania, rút lui từ giữa tháng Tư, và nhất là ông Newt Gingrich, cựu chủ tịch Hạ Viện, đầu tháng này tuyên bố nhẵn túi, nghỉ chơi luôn, thì người ta hiểu rằng “cuộc chơi đã tàn”. (Đầu tuần này, Dân biểu Texas, Ron Paul, cũng tuyên bố “ngưng tranh cử” vì chẳng đủ tiền, nhưng “tiếp tục tranh đấu”). Nay thì bên Dân Chủ đương nhiên là Tổng thống đương nhiệm Barack Obama, và bên Cộng Hòa chắc chắn là ông Mitt Romney, cựu thống đốc tiểu bang Massachusetts. Trước khi tìm hiểu xem cử tri sẽ bầu cho ai, một câu hỏi trong năm nay xem ra nặng nề, ám ảnh hơn bất cứ cuộc bầu cử nào trước đây: Có thể tin được ai? Câu hỏi ám ảnh người Cộng Hòa cả năm nay, cho dù nay họ dĩ nhiên phài chấp nhận ông Romney, là liệu họ có thể tin được ông Mormon này hay chăng. Và điều an ủi duy nhất cho người ta là ít nhất có thể tin ông này chống ông Obama kịch liệt. Về phần ông Obama, sau khi ông “dũng cảm” lên tiếng ủng hộ chính thức hôn nhân đồng tính tuần trước, những người theo khuynh hướng cấp tiến (liberal) trong đảng Dân Chủ hay khối độc lập có thể thấy ông là người của họ, nhưng chắc chắn cũng không thiếu gì người tôn giáo bảo thủ hay thuộc cánh giữa nhìn ông nghi ngại, nếu không phải là chống đối. Người ta nói ông đã không nhấn mạnh vào chủ điểm của bầu cử, lên tiếng ủng hộ một cách theo thời một vấn đề mà trước đây ông không đồng tình, và quyết định của ông tưởng là dũng cảm hóa ra không, và tính toán kiếm phiếu này có thể phản lại ông! Vấn đề là chắc chắn những người chống hôn nhân đồng tính sẽ quay lưng với ông trong bầu cử, trong điều kiện “mọi yếu tố khác vẫn không đổi” (ceteris paribus), trong khi không nhất thiết những người ủng hộ hôn nhân đồng tính sẽ bỏ phiếu cho ông chỉ vì ông ủng hộ hôn nhân đồng tính!

Khi người ta đã nhàm chán những luận điêu công kích đối phương có tính cách máy móc, hồ đồ, bất kể thực tế, cũng không để bụng những lời hứa hoang đường như “tạo 500.000 việc làm mới trong một tháng, 6 triệu việc làm một năm” (số người thất nghiệp chính thức ở Mỹ hiện nay là 13.7 triệu), “giảm thuế hết cho tất cả mọi thành phần (nhất là người giàu)”, “cắt giảm thiếu hụt, nợ nần liên bang (bằng cách cắt chi tiêu cho những chương trình trợ cấp xã hội)”,… thì người ta chỉ còn một cách là xem những ứng cử viên này thực sự là người như thế nào, và muốn biết điều đó thì phải tìm hiểu cái “tiền sử” của họ, bởi vì “tiền sử” dễ phơi bày con người thực hơn, khi người ta đang lo đi học, đang lo học hành cho thành tài, đang lo nghĩ chuyện kiếm việc, ra đời khi học xong, khi người ta không ra tranh cử và không là trọng tâm của ánh đèn sân khấu  của dư luận. Bởi vậy mà hai bài báo của Vanity Fair và Washinbgton Post được quan tâm là nhờ thế. Qua hai bài báo này, người ta dễ nhận ra sự tương phản trong thuở thiếu thời của hai người, một sự tương phản từ thời đó tất nhiên dẫn đến sự đối nghịch thời nay.

Ông Obama có cả một thời thơ ấu không có cha - một khoảng trống nặng nề, không lấp đầy được trong cuộc sống tâm tình và phát triển của con người. Ông cùng người mẹ trôi giạt nhiều phương, từ châu Phi là quê của cha ông đến châu Á, Indonesia, là nơi mẹ ông làm việc. Ông có một thời sống trong sự đùm bọc của ông bà ngoại da trắng. Tuổi trẻ của ông là một sự tìm kiếm, dằn vặt, thao thức không ngừng về “nhân dạng” hay “căn cước” của mình. Theo một người yêu trước đây của ông thời đại học, ông cứ băn khoăn trước những câu hỏi “Ta là người của thế giới hay là người Mỹ”, “Ta là người Mỹ trắng hay Mỹ đen”. Với cuộc sống khá đơn độc, ít bạn bè, khắc khoải trước những câu hỏi về nguồn gốc của mình, ông đã phải kết luận dù sao, ông phải có một quê hương, và đó là nước Mỹ của những người thương yêu, đùm bọc ông. Ông cũng vừa nhìn màu da của mình, vừa nhìn những người chung quanh, và cứ phân vân “Ta thật quá là người da trắng” (I was so white), “Nhưng ta là người da đen” (I am black), “Phải chăng ta là người mạo chủng” (imposter), và cuối cùng ông mới quyết định “Ta là người da đen”. Bởi thế, tuy có hai người yêu là người da trắng, khi người ta nói “Em yêu anh” với ông, ông không đáp “Anh cũng thế”, mà nói “Cám ơn em” – như thể “Cám ơn em biết anh là người mang thân phận da đen mà em vẫn yêu!” 

Tập sách kể lại những khó khăn trong thời sinh viên của ông. Sống trong một phòng không có máy sưởi, mùa đông ông phải đi ngủ đêm trong thư viện của trường cho đỡ lạnh. Ông nhìn đến xã hội chính trị và dị ứng với cả chủ nghĩa tư bản sống chết mặc bây không biết nhìn xuống, và với chủ nghĩa tự do cấp tiến tư sản (bourgeois liberalism) “như một sự phô trương ý thức hệ”. Ông từng làm việc bán thời gian trong khi còn đi học. Sau đó ông làm việc cho một công ty đầu tư, nhưng sau vài tháng ông bỏ đi vì không thích hợp. Cuối cùng, ông làm việc cho một cơ sở dịch vụ cộng đồng, giúp giới trẻ và sinh viên nghèo. Đây được coi là khởi điểm cuộc đời chính trị của ông.

Mitt Romney không có những thử thách thuở thiếu thời của Obama. Ở nơi ông, tất cả như một mâm cỗ dọn sẵn.  Gia đình giàu có, quyền thế, cha là chủ hãng xe hơi, rồi thống đốc tiểu bang, và là chức sắc cao cấp được đầu tư bậc nhất trong Nhà thờ Mormon, ông nhìn lên dường như chẳng thấy ai, nhìn xuống dưới thì quá đông đảo người trong “bể khổ”. Từ cái nhìn đó mà cốt cách, tính khí ông hoàn thành - một tính cách được mô tả là tự kiêu, cao ngạo. Ông tự xem mình, tôn giáo của mình, niềm tin của mình là một khuôn mẫu áp đặt lên người khác, và ai không đi theo khuôn mẫu đó là không được đối với ông. Từ đó có câu chuyện đè đầu đè cổ bạn học mà tờ báo kể lại.  

Câu chuyện đúng ra là do bạn học của Romney thời nhỏ kể lại, và ông Romney không thể phủ nhận bất cứ chi tiết nào trong đó. Vào mùa xuân năm 1965, khi ông được 18 tuổi, ông trở lại trường Cranbrook, một trường cho giới gia đình quí tộc, sau khi nghỉ giữa mùa ba tuần. Ông nhận ra có một điều khác lạ ở ngôi trường mà nam sinh đi học phải thắt cà vạt và mang cặp như người lớn. Có một học sinh mới đến tên John Lauber, thường bị trêu chọc vì “không theo khuôn phép” và có lẽ là người đồng tính. Cậu ta có tóc bạch kim, rõ ràng là nhuộm, xỏa xuống một bên mắt. Đó là điều Romney không chịu nổi.  Mitt Romney, cha là thống đốc của Michigan vào lúc đó, không chịu nổi vì sự “xúc phạm” này và muốn hành động thị uy. Vài ngày sau, Romney ra tay, rủ một số bạn đi theo, tóm lấy Lauber, đè anh ta xuống đất. Lauber khóc lóc, kêu la, nhưng không ai nghe. Romney lấy kéo ra xởn tóc của ngưòi học dưới mình một lớp. Có ít nhất năm học sinh thời đó chứng kiến, nhưng câu chuyện này bị nhà trường cho chìm xuồng. Hai ba người sau đó đã xin lỗi Lauber – Romney không phải là một trong những người này. Theo một bài báo khác cũng trên tờ này, khi Romney là sinh viên Stanford, năm 1966, ông ta làm chuyện tương tự. Chính cha ông vào năm 1970 kể lại “Mitt và bạn học từng dụ sinh viên từ Đại học California đến một nơi và chúng cạo đầu những sinh viên này và sơn màu đỏ lên đầu nạn nhân của mình”. Sau đó, ông thong dong đi “truyền giáo” tại Pháp trong hai năm, một sứ mệnh tôn giáo thường được coi là du lịch đối với con cháu nhà giàu trong đạo. Ngày nay, để trả lời khi người ta đem chuyện cũ ra nói, Romney gật gù “Đúng là thời học sinh, sinh viên, tôi đã làm nhiều chuyện tầm bậy”. Có điều rõ ràng, thuở nhỏ ông đã muốn giải quyết bất đồng với người khác bằng cách đè đầu đè cổ thiên hạ, như vậy lớn lên ông muốn làm tổng thống, cũng chẳng có gì lạ.

Sự lựa chọn giữa ông Obama và Romney thực ra không khó đối với cử tri bởi vì mỗi cử tri đều rõ chỗ đứng của mình trong xã hội. Ông Obama từng nói: Nghèo không phải là cái tội. Đáp lại, ông Romney nói “Tôi tự hào vì mình đã làm giàu được, đó là giá trị của nước Mỹ. Xin đừng đem chuyện giàu nghèo ra để dấy lên đấu tranh giai cấp.”

Ông vẫn chưa hiểu đấu tranh giai cấp chỉ có khi có những người muốn đè đầu đè cổ thiên hạ!  [HNN]

Published in Thời cuộc

 

TIN VIỆT NAM

 

 Kể từ hôm 16 tháng 5 năm 2012, Trung Quốc bắt đầu áp dụng lệnh cấm đánh bắt cá mà họ ban hành trên một vùng rộng lớn ở Biển Đông, trong đó có những khu vực đang tranh chấp với các láng giềng. Ngoài việc phản đối lệnh cấm này qua con đường ngoại giao, chính quyền Việt Nam còn khuyến khích ngư dân tiếp tục hoạt động bình thường để khẳng định chủ quyền đất nước.

 Lệnh cấm của Trung Quốc đã được bộ Nông nghiệp Trung Quốc loan báo từ tháng Giêng vừa rồi, và ngay từ khi ấy đã bị Việt Nam phản đối. Trong một bản thông báo công bố ngày 15 tháng 5, phát ngôn viên bộ Ngoại giao Việt Nam Lương Thanh Nghị một lần nữa đã tuyên bố “phản đối quyết định đơn phương của Trung Quốc và coi quyết định này là không có giá trị”. 

Theo ông Lương Thanh Nghị, lập trường của Việt Nam về vấn đề này đã được nêu rõ trong phát biểu của Bộ Ngoại giao Việt Nam ngày 20 tháng Giêng, theo đó thì việc Trung Quốc đơn phương cấm đánh bắt cá ở biển Đông đã vi phạm chủ quyền của Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, cũng như thẩm quyền hợp pháp của Việt Nam đối với vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của mình.

Theo báo chí Việt Nam, ngoài phản đối chính thức của Bộ Ngoại giao, một số tổ chức ở Việt Nam cũng kêu gọi chống lại lệnh cấm bị đánh giá là phi lý của Trung Quốc.

Theo Hội Nghề cá Việt Nam, Bắc Kinh chỉ có quyền thực hiện lệnh cấm của họ trong phạm vi vùng biển của Trung Quốc, chứ không được áp dụng lệnh này trong vùng biển của các quốc gia khác. Hội Nghề cá Việt Nam cũng kêu gọi ngư dân tiếp tục hoạt động bình thường.

 

    Đó cũng là chủ trương của Bộ Nông nghiệp Việt Nam, vốn đã yêu cầu các địa phương “tổ chức cho ngư dân đánh bắt bình thường trên vùng biển của Việt Nam và ngư trường truyền thống”.

Để đề phòng nguy cơ bị tàu tuần tra Trung Quốc tấn công và bắt bớ - như họ thường xuyên làm trong thời gian qua, Bộ Nông nghiệp Việt Nam đã khuyến cáo ngư dân là nên kết hợp thành nhóm để có thể giúp đỡ lẫn nhau khi cần thiết. Ngoài ra, giới chức quân sự địa phương cũng dự trù một số “lực lượng dân quân biển” để bảo đảm an toàn phần nào cho các ngư dân.- Nguồn: RFI

 

 

 

Nguyễn Tấn Dũng: Sẽ sửa đổi luật đất đai

 

Thủ tướng Hà Nội, ông Nguyễn Tấn Dũng, mới đây cho biết sẽ đề nghị sửa đổi một số điểm bất cập trong việc quản lý, sử dụng đất đai.  Trong cuộc tiếp xúc cử tri Hải Phòng được thực hiện hôm thứ Tư, thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã khẳng định như vừa nêu sau khi có nhiều ý kiến phản đối từ dân chúng về vấn đề ruộng đất. Theo các cử tri, vấn đề đất đai cần được xem xét, nhất là chính sách bồi thường.  Ông Dũng cho biết, những chính sách đất đai bất cập sẽ được bổ sung sữa đổi trong đó bao gồm các chính sách thu hồi đất, giải tỏa mặt bằng, định giá, và nới rộng thời hạn giao đất. -Nguồn: RFA

Vợ ông Nguyễn Quốc Quân kêu gọi Mỹ đòi VN trả tự do cho chồng

 Mới đây, vợ tiến sĩ Nguyễn Quốc Quân, một Việt kiều Mỹ bị giam giữ tại Việt Nam vì tội “khủng bố” từ ngày 17 tháng 4, đã lên tiếng kêu gọi sự trợ giúp của Hoa kỳ để đòi tự do cho chồng bà.Ông Nguyễn Quốc Quân, tức Richard Nguyen, đã bị bắt hôm 17 tháng 4 tại phi cảng Tân Sơn Nhất ở Thành phố Sài Gòn. Theo báo chí chính thức ở Việt Nam, ông « mưu toan vào Việt Nam để xúi giục biểu tình và phá hoại các buổi lễ» nhân kỷ niệm ngày Sài Gòn sụp đổ năm 1975.

   Bà Ngô Mai Hương, vợ ông Nguyễn Quốc Quân, đã nói trước một ủy ban Hạ viện Hoa kỳ hôm thứ Ba tại thủ đô Hoa thịnh đốn như sau: « Tôi đến đây để xin các vị hỗ trợ trong việc trả tự do cho chồng tôi, bị giam giữ một cách tùy tiện ở Việt Nam ». Bà cũng kêu gọi Ngoại trưởng Hillary Clinton và đại sứ Hoa kỳ tại Việt Nam, là ông David Shear lên tiếng yêu cầu « trả tự do ngay lập tức » cho chồng bà.

    Báo chí Việt Nam hồi cuối tháng Tư cho biết, ông Nguyễn Quốc Quân sẽ tiếp tục ở tù trong bốn tháng, thời gian dành cho việc điều tra về tội « khủng bố chống lại chính quyền », một tội danh có mức án cao nhất là tử hình. Tuy vậy chính quyền Việt Nam chưa bao giờ tử hình các công dân ngoại quốc vì các tội chính trị.

    Ông Nguyễn Quốc Quân, 59 tuổi, tiến sĩ toán học, là thành viên của đảng Việt Tân có trụ sở tại Hoa Kỳ. Đảng này bị chính quyền Hà Nội coi là một tổ chức khủng bố, nhưng Việt Tân khẳng định mục đích là xúc tiến dân chủ bằng các phương pháp hòa bình. Trong một thông cáo, Việt Tân cho rằng “việc kết tội ông Quân là khủng bố là hoàn toàn gán ghép và vô căn cứ”, đồng thời kêu gọi trả tự do cho ông Nguyễn Quốc Quân ngay lập tức.-Nguồn: RFI

 

TIN HOA KỲ

 Obama gửi 1 triệu MKtrong JPMorgan Chase

Tòa Bạch Ốc vừa cho biết, Tổng thống Barack Obama đã để số tiền lớn lên tới 1 triệu MK trong tài khoản của ngân hàng JPMorgan Chase, trong sự kiện có thể làm trầm trọng thêm vụ thua lỗ 2 tỷ Mỹ kim của đại gia ngành tài chính này.

 Theo luật, các nhân vật chính trị ở Hoa Kỳ phải công bố tài sản và các khoản đầu tư của họ, để tránh gây xung đột lợi ích và Tòa Bạch Ốc vẫn công bố lợi tức của Obama cùng Phó Tổng thống Joe Biden mỗi năm.

 

    Bên cạnh số tiền từ 500 ngàn đến 1 triệu Mỹ kim trong tài khoản Quản lý tài sản khách hàng tư nhân ở JPMorgan Chase, ông Obama còn có hàng triệu Mỹ kim nằm trong các dạng trái phiếu, cổ phiếu khác. Khoản đầu tư lớn nhất, theo thông tin từ Tòa Bạch Ốc, dao động từ 1 đến 5 triệu Mỹ kim, nằm trong “bond” Kho bạc Hoa Kỳ.Phần lớn tiền ông Obama kiếm được từ việc bán sách, gồm cuốn hồi ký ăn khách “Dreams From My Father”.Ông Obama nói trong một cuộc phỏng vấn trên truyền hình tại chương trình “The View” của đài ABC phát hình hôm thứ Ba rằng khoản tiền thua lỗ trị giá 2 tỷ Mỹ kim do JPMorgan gây ra là chứng cứ cho thấy chính quyền phải xiết chặt quản lý ngân hàng. Ông cũng nói rằng nhà lãnh đạo JPMorgan Jamie Dimon là “một trong những ông chủ ngân hàng thông minh nhất chúng ta có và họ vẫn mất tiền. Họ mất 2 tỷ Mỹ kim và hơn thế vì họ đặt cược vào những thị trường không lành mạnh. Đó là lý do vì sao chúng ta phải thông qua luật cải tổ Wall Street”.

  Bộ Tư pháp Hoa Kỳ đã yêu cầu Cơ quan điều tra liên bang FBI mở cuộc điều tra nhằm vào hoạt động thua lỗ hơn 2 tỷ Mỹ kim của JPMorgan Chase. Tin tức của cuộc điều tra diễn ra khi giám đốc điều hành JPMorgan, ông Dimon, phải đối diện với các chỉ trích trong đại hội cổ đông thường niên của công ty ở Tampa, tiểu bang Florida, do khoản thua lỗ gây bất ngờ kể trên.

 

Một thành viên gia đình Kennedy tự sát

 Bà Mary Richardson Kennedy, bà vợ 52 tuổi của ông Robert F. Kennedy Junior, đã qua đời theo thông báo của gia đình bà hôm thứ Tư. Tuy nhiên, truyền thông địa phương lại cho biết đây có thể là một vụ tự sát trong nhà bà ở ngoại ô New York.Gia đình Richardson nói trong một tuyên bố gửi cho hãng thông tấn AFP thông qua luật sư của họ như sau: “Chúng tôi vô cùng thương tiếc người chị em Mary của chúng tôi, người mà tinh thần sáng tạo và sức sống sẽ được nhớ mãi bởi những người thương yêu”.

    Tờ báo địa phương The Journal News và báo New York's Daily News dẫn các nguồn tin giấu tên nói, bà đã tự sát bằng cách treo cổ.

    Cảnh sát ở thị trấn Bedford phía bắc thành phố New York chỉ thông báo ngắn gọn rằng “một người đã chết bên trong một căn nhà ở thị trấn”. Cảnh sát cũng không cho biết danh tính tên người thiệt mạng.

 

    Ông Robert F. Kennedy Junior là con trai của ông Robert F. Kennedy, người đã bị bắn chết vào năm 1968 khi đang định đại diện cho phe Dân chủ ra tranh cử tổng thống, vị trí từng do anh trai ông, ông John F. Kennedy, bị ám sát vào năm 1963, nắm giữ.

    Dòng họ Kennedy là một trong những họ tộc danh giá nhất Hoa Kỳ với nhiều người trở thành các chính trị gia tiếng tăm và giàu quyền lực.

 

    Bà Mary Kennedy và ông Robert F. Kennedy Junior đã ly thân từ năm 2010. Bà là vợ thứ nhì của ông và họ đã kết hôn được 16 năm. Cặp vợ chồng có bốn con.

 

Mỹ điều tra vụ rò rỉ thông tin về âm mưu “đánh bom quần lót”

Giám đốc Cơ quan Điều tra Liêng bang Hoa Kỳ FBI, là ông Robert S. Mueller vừa tiết lộ, FBI đang điều tra việc rò rỉ thông tin về âm mưu “đánh bom quần lót” nhằm vào một phi cơ hướng đến Hoa Kỳ.

 

    Theo hãng thông tấn ABC News, hãng thông tấn AP là nơi đầu tiên tiết lộ kế hoạch thực hiện vụ tấn công do chi nhánh của al Qaeda ở Yemen thực hiện. Trước đó, giới chức Hoa Kỳ cho biết đã phát giác tổ chức khủng bố này âm mưu cử một kẻ đánh bom liều chết mang theo bom quần lót và cho nổ một phi cơ đáp đến Hoa Kỳ.

 

     Một ngày sau, có nguồn tin cho rằng cá nhân đóng vai trò trung tâm trong vụ việc là gián điệp nhị trùng. Người này được cho là làm việc cho cơ quan tình báo Anh MI-6 và cơ quan tình báo Hoa Kỳ CIA, đồng thời có liên quan với tình báo Ả-Rập Saudi.

 

    Ông Mueller vừa xác nhận trước Ủy ban Tư pháp Thượng viện Hoa Kỳ, khi cho biết: “Chúng tôi đã bắt đầu điều tra vụ rò rỉ này. Việc rò rỉ thông tin sẽ đe dọa các hoạt động đang diễn ra, khiến người cung cấp nguồn tin gặp nguy hiểm và việc tuyển mộ nguồn tin mới gặp khó khăn hơn. Việc đó cũng gây hại cho mối quan hệ của chúng ta với các đối tác ngọai quốc”.

 

    Ông Mueller nói thêm, vụ rò rỉ khiến các cơ quan tình báo ngọai quốc cảm thấy e ngại trong việc chia sẻ thông tin cho cơ quan tình báo Hoa Kỳ, vì họ nghĩ rằng những thông tin đó không được bảo đảm tính tuyệt mật. Điều đó sẽ gây tác hại lâu dài đến quan hệ giữa cơ quan tình báo của Hoa Kỳ và các quốc gia khác. Vì vậy, ông Mueller nhấn mạnh, người chịu trách nhiệm tiết lộ thông tin phải được đưa ra công lý.

 

    Việc điều tra sẽ do Bộ Tư pháp Hoa Kỳ và các mật vụ của văn phòng FBI ở Hoa Thịnh đốn thực hiện. Các viên chức của Bộ Tư pháp và phát ngôn viên FBI từ chối bình luật về bản chất của cuộc điều tra. Ngoài ra, cơ quan tình báo Hoa Kỳ CIA cũng không bình luận gì về việc này.

 

    Bên cạnh đó, văn phòng của giám đốc Cơ quan Tình báo Quốc gia đang điều tra liệu việc rò rỉ có bắt nguồn từ 16 đơn vị của cơ quan này hay không.

  

TIN THẾ GIỚI

 

Mỹ đã sẵn sàng tấn công Iran  

Tuy ưu tiên giải pháp ngoại giao hòa bình, nhưng Hoa Kỳ cũng như Do Thái đã sẵn sàng kế hoạch tấn công quân sự Iran nhằm gây sức ép. 

    Phát biểu vài ngày trước vòng đối thoại nguyên tử giữa Iran và các cường quốc vào cuối tháng này, Đại sứ Hoa Kỳ tại Do Thái, ông Dan Shapiro, cho biết, Hoa Kỳ đã sẵn sàng kế hoạch tấn công quân sự Iran.

 

    Tuy nhiên, ông này khẳng định, tấn công quân sự là kế họach cuối cùng nếu giải pháp ngoại giao hòa bình không thể khiến Iran từ bỏ chương trình nguyên tử.

 

    Hiện giới chức Hoa Kỳ đang cân nhắc các lệnh trừng phạt bổ sung nhằm tăng sức ép với Iran, trong đó có việc trừng phạt các công ty ngọai quốc làm ăn với Iran.

 

    Tháng trước, nguồn tin quân sự Do Thái cũng cho biết, không quân quốc gia này đã sẵn sàng cho một cuộc tấn công phủ đầu vào các cơ sở nguyên tử của Iran.

 

    Những thông tin nêu trên được đưa ra sau khi cuộc đối thoại giữa Iran và Cơ quan nguyên tử năng quốc tế IAEA không đạt được kết quả. Dự kiến, Iran cũng sẽ nối lại đối thoại với 5 quốc gia thành viên thường trực Hội đồng bảo an và Đức vào ngày 23 tháng 5 tới. Iran cảnh báo, đối thoại sẽ đổ vỡ nếu phương Tây tiếp tục gây sức ép với họ.

 

Giao tranh lớn tại Yemen, 45 tay súng thiệt mạng

Hôm thứ Tư, ít nhất 45 tay súng của tổ chức khủng bố al-Qaeda nhánh Bán đảo Arập, tức AQAP, đã bị tiêu diệt trong các cuộc giao tranh dữ dội giữa quân đội chính phủ và tổ chức khủng bố này ở tỉnh Abyan, miền Nam Yemen.

 

    Theo Bộ Quốc phòng Yemen, từ hôm thứ Ba, quân đội nước này đã mở các cuộc tấn công truy quét và giành được quyền kiểm soát thị trấn Lauder và khu vực Al-Koup sau các cuộc giao tranh dữ dội, gây thiệt hại nặng nề cho các tay súng al-Qaeda.

 

    Trước đó, tổ chức khủng bố al-Qaeda nhánh Bán đảo Arập đã đánh bại các tay súng bộ lạc và kiểm soát khu vực này. Cùng ngày, quân đội, cùng với sự ủng hộ của các tay súng bộ lạc, cũng đã giao tranh với các phần tử khủng bố tại vùng Dovas và al-Harour.

 

    Trong khi đó, một nguồn tin tại Bộ Quốc phòng Yemen cho biết khoảng 15 binh sỹ Yemen thiệt mạng trong các cuộc giao tranh sáng thứ Tư tại khu vực gần núi Yasouf, một điểm cao chiến lược có thể bao quát tất cả thị trấn Lauder.

 

    Sau khi cựu Tổng thống Yemen, ông Ali Abdullah Saleh từ bỏ quyền lực sau nhiều năm cầm quyền, tổ chức khủng bố al-Qaeda nhánh Bán đảo Arập đã lợi dụng khoảng trống quyền lực để tiến hành nhiều cuộc tấn công nhằm mở rộng khu vực kiểm soát tại miền Nam Yemen. Tân Tổng thống Yemen, ông Abdrabuh Mansour Hadi đã thề sẽ phát động một cuộc chiến tranh tổng lực để truy quét tổ chức khủng bố al-Qaeda nhánh Bán đảo Arập.

 

         Trong một diễn biến khác, Tổng thống Hoa Kỳ Barack Obama hôm thứ Tư đã ký sắc lệnh trừng phạt các cá nhân và tổ chức được coi là mối đe dọa đối với Yemen.

    Theo phát ngôn viên Tòa Bạch Ốc Jay Carney, sắc lệnh cho phép chính quyền Hoa Kỳ trừng phạt những người tìm cách phá hoại quá trình chuyển tiếp của Yemen, trao quyền cho Bộ Tài chính Hoa Kỳ phong tỏa tài sản của các cá nhân và tổ chức vi phạm, đồng thời cấm các cá nhân và tổ chức của Hoa Kỳ giao dịch với những nhân vật này.

 

Người biểu tình Phi Luật tân kéo nhau ra bãi cạn Scarborough

Hôm thứ Năm, người biểu tình Phi Luật tân tuyên bố họ có kế hoạch dong thuyền ra bãi cạn Scarborough trong lúc Trung Quốc và Phi Luật tân đang nỗ lực giải quyết căng thẳng về chủ quyền lãnh hải về khu vực này.Theo phát ngôn viên nhóm biểu tình, là đại úy Kit Guerrero, nhóm người biểu tình sẽ tiến ra bãi cạn vào hôm thứ Sáu. Ông Kit Guerrero nói: “Họ muốn biểu tình chống lại sự hiếu chiến của Trung Quốc đối với đất nước chúng tôi.”Ông Guerrero cho biết, ít nhất 2 tàu đánh cá chở nhóm của đại úy Faeldon sẽ đến bãi cạn vào chiều tối ngày mai. Tuy vậy, ông cho rằng nhóm biểu tình này có thể sẽ bị tàu tuần tra của hải quân Trung Quốc ngăn chặn hoặc thậm chí là bắt giữ.

     Cả hai quốc gia đều có tàu đóng chốt tại khu vực bãi cạn kể từ hôm 10 tháng 4 sau khi tàu Trung Quốc ngăn tàu hải quân Phi Luật tân bắt giữ các ngư dân Trung Quốc.

    Sau đó, cả hai bên đều đã ban bố lệnh cấm đánh bắt cá xung quanh khu vực tranh chấp và các lệnh cấm này có hiệu lực từ hôm qua.Một số nhà quan sát tại Manila, thủ đô Phi Luật tân, coi các lệnh cấm này là cơ hội để cả hai quốc gia giữ thể diện rồi rút lui khỏi cuộc đối đầu.

Bãi cạn Scarborough cách đất liền Phi Luật tân khoảng 230 cây số và cách khu vực đất liền gần nhất của Trung Quốc khoảng 1 ngàn 200 cây số.Trung Quốc tuyên bố bãi cạn cùng gần như tất cả Biển Đông thuộc chủ quyền của mình còn Phi Luật tân tuyên bố bãi cạn thuộc về vùng đặc quyền kinh tế rộng 200 hải lý của nước này. 

Mễ Tây cơ bắt 2 viên tướng nghi dính líu đến ma túy 

Các nhà điều tra Mễ Tây cơ đã bắt một cựu thứ trưởng Quốc phòng và một viên tướng bộ binh hàng đầu bị nghi ngờ dính líu đến tổ chức tội phạm trong vụ bê bối ở cấp cao nhất của quân đội suốt cuộc chiến chống ma túy 5 năm qua.

Hãng thông tấn Reuters dẫn lời các viên chức chính phủ và quân đội cho biết, các binh sỹ Mễ Tây cơ đã bắt tướng về hưu Tomas Angeles Dauahare và tướng Roberto Dawe Gonzalez vào hôm thứ Ba. Cả hai đã được giao cho đơn vị chống tội phạm có tổ chức. 

    Ông Angeles Dauahare từng là thứ trưởng Quốc phòng dưới thời Tổng thống Felipe Calderon và giúp lãnh đạo cuộc đàn áp các tổ chức ma túy của chính phủ sau khi các binh sỹ được khai triển trên đường phố vào cuối năm 2006. Ông về hưu năm 2008. 

    Ông Dawe Gonzalez, một viên tướng đương chức, là lãnh đạo một đơn vị bộ binh tinh nhuệ tại tiểu bang Colima ở phía tây.

    Truyền thông địa phương cho hay ông từng giữ các vị trí ở những tiểu bang bị bạo lực hoành hành như Sinaloa và Chihuahua.

    Một viên chức giấu tên thuộc Văn phòng Bộ trưởng tư pháp cho biết, các viên tướng sẽ bị giam vài ngày để lấy lời khai trước khi trình diện trước một thẩm phán.

    Tờ nhật báo Reforma đưa tin ông Angeles Dauahare đã tuyên bố vụ bắt giữ là phi lý. 

    Nếu hai viên tướng bị kết tội buôn lậu ma túy, đây sẽ là vụ bê bối biến chất nghiêm trọng nhất của quân đội dưới thời Tổng thống Calderon.

Dân Hy Lạp đổ xô đi rút tiền tại các ngân hàng  

Trong khi hai nhà lãnh đạo Pháp – Đức bày tỏ quyết tâm duy trì Hy Lạp trong khối đồng tiền chung châu Âu, thì tại xứ sở thần thọai, người dân đổ xô đến các ngân hàng rút hết tiền mặt. Đáng lo ngại nhất là Ngân hàng trung ương châu Âu đã cho ngưng các hoạt động cấp lại vốn cho một số ngân hàng tại quốc gia này.

 Theo báo Le Figaro, từ hồi đầu tuần này, người dân Hy Lạp đã lũ lượt kéo nhau đến rút hết tiền tại các ngân hàng để cất giữ tại nhà. Hơn một tỷ euro đã được rút ra tính từ hôm thứ hai đầu tuần (tương đương với khoảng 700-800 triệu euro một ngày).

   Hiện tượng này đã từng xảy ra một lần vào tháng 4 năm 2010, trong vòng có vài ngày người dân đã rút ra hơn 8 tỷ euro trước khi kế hoạch cứu trợ đầu tiên của Quỹ tiền tệ quốc tế IMF được thực hiện.

    Như vậy, tính từ năm 2010 đến nay thì khoảng 75 tỷ euro đã được rút ra từ các ngân hàng Hy Lạp.

    Tuy nhiên, lượng tiền hụt đi này sẽ không được ngân hàng trung ương Âu châu bù đắp lại, cơ quan duy nhất có thể cung cấp tiền mặt vô giới hạn cho các ngân hàng. Trong trường hợp này, Hy Lạp còn phải đợi sự chấp thuận của Ngân hàng Trung ương BCE đến cứu trợ cho các ngân hàng Hy Lạp, một khả năng ngày càng ít chắc chắn.

    Một tín hiệu xấu khác có thể làm trầm trọng thêm tình hình tại Hy Lạp. Hôm thứ Tư, Ngân hàng trung ương tuyên bố sẽ ngưng các hoạt động tái cấp vốn cho một số ngân hàng Hy Lạp, “do các ngân hàng này đã không được tái đầu tư vốn một cách đúng đắn”. Thậm chí, ông Mario Draghi, chủ tịch Ngân hàng trung ương còn gợi ý đến việc để cho Hy Lạp ra khỏi khu vực đồng euro.

    Thế nhưng, theo nhận xét của một chuyên gia phân tích tài chính thì ngân hàng trung ương Âu châu  không thể nào bỏ rơi Hy Lạp, bởi lẽ nếu quốc gia này rời khỏi khu vực đồng euro, thì “tất cả các ngân hàng trung ương các nước thành viên sẽ phải trả giá đắt. Một điều không ai mong muốn. Việc ra lệnh trục xuất Hy Lạp cũng không thể nào có được, bởi lẽ nếu chuyện này xảy ra, thì cả khối euro chắc chắn sẽ rơi vào tình trạng hỗn loạn”.

    Một điều đáng chú ý là trong khi các ngân hàng đang khốn khổ với lượng tiền mặt đang khan hiếm dần, thì ngành kinh doanh tủ sắt an toàn lại phất lên đáng kể. Doanh thu trong lãnh vực này trong những ngày gần đây tăng lên đến 40%. Lượng hàng tồn kho cũng không đủ cung cấp cho khách hàng. Các nhà kinh doanh phải liên tục đặt hàng từ các nhà sản xuất Ý. Thậm chí, các nhà kinh doanh phải mua lại các tủ sắt cũ, sau đó cải tạo lại để có thể cung cấp cho khách hàng. Thế mới biết, trong khủng hoảng cũng có kẻ vẫn trục được lợi.-Nguồn: RFI 

Bắc Hàn bắt 29 ngư dân TQ đòi tiền chuộc 

Các cơ quan truyền thông Trung Quốc như IBTimes, Bejing News đã xác nhận thông tin từ Bộ Ngoại giao Trung Quốc cho biết có 29 ngư dân và 3 tàu đánh cá của nước này bị lực lượng của Bắc Hàn bắt giữ.

    Theo truyền thông Trung Quốc, hôm 8 tháng 5 vừa qua có 3 tàu đánh cá Trung Quốc bị một tàu Bắc Hàn chưa rõ danh tính khống chế, 29 ngư dân trên 4 tàu cá bị bắt.

    4 tàu cá Trung Quốc bị bắt gồm 1 tàu ghi danh tại Đại Liên và 3 tàu ghi danh tại Đan Đông, hiện tại tàu ghi danh tại Đại Liên đã được thả và đang trên đường trở về.

   Những tàu cá này xuất phát từ Đông Cảng thuộc tỉnh Sơn Đông sáng hôm 2 tháng 5, đến chiều hôm 7 tháng 5 thì tới gần đường ranh giới trên biển giữa Trung Quốc với Bắc Hàn.

   Hãng thông tấn AFP dẫn lời một chủ tàu cho biết, 3 tàu cá Trung Quốc bị lực lượng quân sự Bắc Hàn dùng vũ lực đe dọa để lên các tàu này sau đó họ chiếm lấy tàu bằng cách vô hiệu hóa các máy móc thiết bị trên tàu.

    Hiện Bộ Ngoại giao Trung Quốc đang tích cực liên lạc với phía Bắc Hàn để xác định vụ việc và tìm cách giải cứu 29 ngư dân Trung Quốc bị bắt cóc và đang bị đe dọa tính mạng. 

    Trong khi đó, hôm 30 tháng 4, Nam Hàn cũng đã bắt giữ 9 ngư dân Trung Quốc đang “đánh bắt trộm” ở vùng biển Nam Hàn. Vụ việc đã dẫn đến ẩu đả khiến 4 binh sỹ thuộc lực lượng Tuần duyên Nam Hàn bị thương.

    Hôm 19 tháng 4, một tòa án ở thành phố Incheon, Nam Hàn cũng đã xử một ngư dân Trung Quốc 30 năm tù vì tội đâm chết một binh sỹ tuần duyên của họ khi bị phát giác đang “đánh bắt trộm” ở Hoàng Hải hồi tháng 12 năm ngoái.

    Vùng biển Hoàng Hải được cho là giàu trữ lượng hải sản và thường xuyên diễn ra các vụ xung đột giữa tàu cá Trung Quốc và tàu tuần duyên Nam Hàn. Chỉ trong năm ngoái Nam Hàn đã bắt giữ 475 tàu cá của Trung Quốc tại vùng biển này.[THS]

Published in Tin Tức
Friday, 18 May 2012 19:13

Hy Lạp, Đồng Euro và Ý Dân

 

Những mâu thuẫn không thể dung hòa

Cuối Tháng Hai, trong phút cao hứng, người viết phân tách trên cột báo này trong số ra ngày hai Tháng Ba việc Hy Lạp có thể ra khỏi khối Euro và vãn hồi đồng Drachma cũ mà ra mới (xin đọc lại bài "Trái Bóng Hy Lạp Lăn Ra Ngoài Biên - Hy Lạp có thể ra khỏi khối Euro. Và cũng nên...."  Tuần qua, kịch bản ấy lại có vẻ - nói theo kiểu Hà Nội - "đi vào hiện thực", với xác suất khá cao. Quá cao theo quan điểm đầy âu lo của các quan chức Âu châu.

Trong khi chờ đợi ngày được thông báo là đồng Euro bị sứt một góc, xin hãy nhìn lại chuyện này từ giác độ... "dân chủ". Nói cho nôm na là ý dân.

 

Cựu Thủ Tướng Hy Lạp Papandreous.Getty Images

Từ khi khủng hoảng bùng nổ vào năm 2008, các nước Âu Châu đã tung ra nhiều biện pháp chống đỡ để tránh cho Hy Lạp sẽ khỏi vỡ nợ, các ngân hàng lỡ cho vay mà mất vốn vì không đòi được nợ sẽ khỏi phá sản, hệ thống tiền tệ thống nhất của 17 nước trong khối Euro khỏi sụp đổ và, mục tiêu sau cùng, Liên hiệp Âu châu của 27 quốc gia khỏi bị khủng hoảng. Trong ba năm, các nước đã có ba bốn kế hoạch liên tiếp để cuối cùng thấy rằng sự thể lại nguy ngập hơn vậy: nhiều thành viên Euro đã tiêu xài và vay mượn quá khả năng từ quá lâu, đến khi kinh tế suy trầm thì lại cần thêm tiền, vừa để kích thích sản xuất vừa để trả nợ. Trong hoàn cảnh sản xuất sa sút và thất nghiệp cao thì việc thắt lưng buộc bụng để trả nợ khiến các chính quyền lâm nạn về kinh tế đều bị khủng hoảng về chính trị, bị thất cử hoặc phải từ nhiệm.

Từ nhiệm là trường hợp của Thủ tướng Hy Lạp George Papandreou thuộc đảng PASOK của cánh trung tả (viết tắt của Phong trào Xã hội Liên Hy Lạp). Tháng 11 năm ngoái, ông bị các nước Âu châu và Quỹ Tiền tệ Quốc tế IMF đã tung tiền chuộc nợ gây áp lực vì không thể tuân thủ những điều kiện do Âu Châu đặt ra để được cấp thêm một ngân khoản chuộc nợ trị giá 165 tỷ Mỹ kim.

Việc thương thuyết kế hoạch này tiến hành trước đó và Chính quyền Papandreou đã thoả thuận với đòi hỏi của quốc tế là phải giảm chi ngân sách nếu muốn được cấp cứu.

Sau khi đồng ý với thiên hạ rồi, về nhà, ông đưa ra sáng kiến khác. Đó là trưng cầu ý kiến người dân về kế hoạch này. Sáng kiến đó lập tức gây hốt hoảng cho các thị trường tài chánh vì giới đầu tư tin là dân Hy Lạp sẽ phản đối những biện pháp khắc khổ và các nước không thể cứu vãn tình hình và Hy Lạp sẽ vỡ nợ. Các nước thì cho là họ đã thương thảo với một chính quyền dân cử hợp pháp mà sau cùng chính quyền đó lại đổi ý và viện ra ý dân để thoái thác, hoặc để đòi mặc cả lại.

 Vì phản ứng đó của thị trường và chính trường Âu châu, Thủ tướng Papandreous phải rút lại đề nghị trưng cầu dân ý và từ chức để một chính quyền lâm thời lên thay, với một thủ tướng là chuyên gia có uy tín. Chính quyền có đặc tính liên minh để cứu nguy tổ quốc được hậu thuẫn của hai đảng lớn nhất là PASOK và Tân Dân Chủ. Nhưng người dân Hy Lạp mất cơ hội bày tỏ ý kiến. Thật ra, họ vẫn cho biết ý kiến sau khi liên tục bất tín nhiệm hai đảng lớn, và ủng hộ quan điểm của các nhóm cực tả và cực hữu là bác bỏ chính sách khắc khổ. Trong đó, mạnh nhất là Liên đoàn các Đảng Cấp tiến Cánh tả, gọi tắt theo tiếng Hy Lạp là Syriza, đã về hạng nhì với gần một phần ba số phiếu. Tuần qua, Hy Lạp lâm bế tắc rồi khủng hoảng chính trị vì không đảng nào hay một liên minh nào chiếm đủ đa số để thi hành một kế hoạch cứu nguy kinh tế và chấn chỉnh chi thu.  Trong tư thế quốc trưởng rất tượng trưng vì Hy Lạp theo chế độ "Đại nghị", quyền lực thuộc về Quốc hội, Tổng thống Karolos Papoulias quyết định tổ chức tổng tuyển cử vào tháng tới.

Những biến động ấy khiến các thị trường tài chánh từ Âu qua Á về tới Hoa Kỳ đều sụt giá nặng và ngày càng có nhiều dư luận cho là Hy Lạp sẽ ra khỏi khối Euro, dùng lại đồng Drachma để có thể giải quyết khó khăn qua biện pháp phá giá và lạm phát....

 Đấy là bối cảnh của vấn đề.

 

                                                                                                                            *** 

 Nhìn sâu xa hơn một vụ khủng hoảng tài chánh và chính trị của Hy Lạp, người ta có thể thấy ra một vụ khủng hoảng còn trầm trọng hơn bên trong cơ chế chính trị Âu Châu. 

Lãnh đạo ở trên - về chính trị là các chính quyền dân cử Âu châu và về kinh tế tài chánh là hệ thống Ngân hàng Trung ương Âu châu (ECB) cùng các ngân hàng trung ương của từng nước và hệ thống ngân hàng thương mại hay đầu tư của toàn khối - có thể thoả thuận với nhau về một số quy ước chung để qua việc sử dụng một đồng tiền thống nhất, các nước đều cùng có lợi. Đấy là một sự giả định, một điều kiện, quá lạc quan của toàn bộ kiến trúc Âu Châu.

Chìm sâu bên dưới là những mâu thuẫn kỳ lạ.

Các quốc gia đều theo nguyên tắc dân chủ: quyền dân là tối thượng, được thể hiện qua bầu cử để một chính quyền sẽ đại diện mình mà quyết định chuyện an ninh hay quốc kế dân sinh. Khi bước vào hội nhập kinh tế và thống nhất đồng bạc trong một hệ thống chính trị liên hiệp với các quốc gia khác, từng nước đều trao một phần chủ quyền của mình cho một cơ chế quốc tế là Liên hiệp Âu châu, gồm có Hành pháp, Quốc hội, Toà án và một Ngân hàng Trung ương chung.

Các nước chấp nhận nhường lại một phần chủ quyền quốc gia để có hòa bình và thịnh vượng trong một khu vực mở mà các công dân được đi lại tự do để kiếm tiền ở những nơi có lợi nhất, và còn có thể thanh toán bằng một đồng bạc chung.

Mâu thuẫn ở đây là việc cơ chế thống nhất này không có khả năng cưỡng hành trong nhiều lãnh vực, trước tiên là kinh tế tài chánh. Nhiều quốc gia đã tăng chi quá khả năng, bị bội chi nhiều hơn mức quy định hay cam kết ban đầu và như Hy Lạp, còn ngụy tạo thống kê kinh tế để hưởng lợi. Và ngân hàng trung ương ECB cũng không thể có những biện pháp tiền tệ hay tín dụng cho toàn khối nếu không có sự đồng ý của 17 nước thành viên.

 Nói nôm na dễ hiểu, các nước xài chung những lợi ích mà khỏi chịu chung những kỷ luật về ngân sách hay thuế khoá. Chưa tiến tới thể chế liên bang như Hoa Kỳ, Âu châu không có cơ chế siêu quốc với thanh tra thuế vụ hay quân đội có thẩm quyền thực thi kỷ luật chung.

Nhưng sự thoả thuận trên ngọn như vậy khiến hệ thống quản lý chính trị và kinh tế của Liên Âu tại thủ đô Bruxelles hay Stratbourg - trụ sở Quốc hội - hoặc Frankfurt của Ngân hàng Trung ương lại có ảo tưởng là họ quyết định về chánh sách chung của toàn khối. Và họ quyết định thật, mà không đạt kết quả.

 Sau hai chục năm thành lập Liên Âu và 10 năm dựng lên khối Euro, mâu thuẫn căn bản đã bùng nổ vì tình hình kinh tế hết sáng sủa và sự lạc quan ban đầu lạt phai dần. Những biện pháp cấp cứu kinh tế tài chánh đòi hỏi sự hy sinh mà chẳng ai muốn. Những cam kết của các chính quyền dân cử với thủ đô Bruxelles bị dân chúng ở nhà phản đối và 11 chính quyền đã sụp đổ.

Người dân từng nước thì cho là các công chức quốc tế tại Bruxelles, Stratbourg hay Frankfurt đã mù quáng lấy những quyết định tai hại cho cuộc sống của họ. Hoặc chế độ tự do lưu thông do các nước Âu châu cùng thỏa thuận với Hiệp ước di trú Schengen khiến "kẻ lạ" từ xứ khác có thể vào cướp mất việc làm của họ. Và cường quốc kinh tế số một là nước Đức đòi áp đặt những chính sách khắc khổ để bảo vệ quyền lợi của mình. Thất vọng với cách giải quyết của chính quyền, họ bỏ phiếu, biểu tình và phản đối mọi đề nghị chấn chỉnh.

Lý luận của dân Âu châu có thể là đúng một phần hoặc sai nhiều phần, nhưng... họ có quyền sai lầm vì nguyên tắc dân chủ. Mà bảo rằng chế độ dân chủ không có khả năng giải quyết vấn đề thì cũng là đúng một phần nhưng sai nhiều phần nếu người ta so sánh với một thể chế độc tài khác.

Khi vụ khủng hoảng Hy Lạp xảy ra, người ta mới thấy sự lật lọng của nguyên Thủ tướng Papandreous là... chí lý. Ông đã cam kết để xứ sở được cấp cứu, rồi lại phủ nhận lời cam kết này khi chạy về núp sau ý dân. Ông bị mất ghế Thủ tướng, nhưng các chính quyền nối tiếp cũng thế vì làn sóng phản đối của người dân.

Chính đảng mạnh nhất Hy Lạp hiện nay là Syriza theo xu hướng cực tả, rất nghi ngờ khái niệm Âu châu thống nhất, không chấp nhận biện pháp kinh tế khắc khổ mà Âu châu đòi hỏi, nhưng vẫn muốn duy trì hệ thống Euro, tức là muốn được cấp cứu về tài chánh mà không chịu trả giá. 

Các thị trường Âu châu theo nhau tuột giá vì không nhìn thấy tương lai và đang chuẩn bị kịch bản Hy Lạp ra khỏi khối Euro, tự nguyện hay không. Vài ngày qua, dân Hy Lạp liền sống với kịch bản đó khi ráo riết rút tiền ra khỏi ngân hàng, khiến các ngân hàng Hy Lạp càng dễ sụp đổ và khủng hoảng càng thêm trầm trọng. Từ chuyện Euro không còn Hy Lạp, người ta suy rộng ra ngoài là nhiều xứ khác ở miền Nam, như Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha hay cả Ý Đại Lợi cũng rúng động làm khối Euro có thể tan vỡ vì Âu châu hết tiền cứu vãn....

Ngay trước mắt, dân chúng Hy Lạp, hay đảng Syriza đang có hy vọng cầm quyền sau cuộc bầu cử tháng tới, thì mong là nhờ đó mà họ sẽ thương thuyết lại điều kiện cứu trợ để vẫn hưởng lợi nhờ quy chế tiền tệ thống nhất mà đỡ phải hy sinh. Chưa chắc là Liên Âu hay nước Đức đã chấp nhận trò chơi này vì sẽ mở cửa cho nhiều nước khác cùng tháo chạy qua kẽ hở đó khi Ngân hàng Trung ương ECB đã tung ra một ngàn tỷ Euro và e là còn cần thêm một ngàn tỷ nữa mới đủ.

 Về lâu dài, không chỉ khối Euro mới bị nguy cơ tan rã mà cả giấc mơ thống nhất của Liên Âu cũng vậy. Đặc tính của nền dân chủ chính là khả năng thỏa hiệp, người dân và các nước có thể thỏa hiệp đến mức độ nào để tiếp tục duy trì mâu thuẫn kỳ lạ của Âu châu? Câu trả lời cho vấn nạn đó sẽ quyết định về tương lai Âu châu. Trước sự lớn mạnh của cánh cực tả vô trách nhiệm về công chi thu và cánh hữu đầy tính dân tộc hẹp hòi đến độ bài ngoại, người ta không mấy lạc quan về tương lai...[NXN]

Published in Phân tích

Lại xuôi Nam

Lần trước nhân có cháu gái, con của trưởng nữ vào trường tại vùng Pomona, chúng tôi có dịp giới thiệu với quý vị ngôi trường đặc biệt gọi là đại học con gái Scripps tại thị xã Claremont.

 Kỳ này một cháu trai, con của cô gái thứ hai ra trường, chúng tôi lại có dịp giới thiệu với quý độc giả ngôi trường khác. University of Southern California (USC).

 

       

Gia đình lưu niệm


 

Đồng bào ta ở miền Bắc, từ San Jose cuối tuần xuôi Nam thường gọi là đi Lốt, ý nói đi Los Angeles. Thực sự là ta thường đi xuống quận Cam. Orange county gồm rất nhiều tỉnh nhỏ. Los Angeles county cũng có nhiều thị xã nhỏ, nhưng chính LA là đại đô thị và đồng thời cũng là một quận hành chánh vĩ đại tại miền Nam California.

Dù vậy trên 36 năm ở Mỹ, chúng tôi cũng chưa từng có dịp đi dự lễ ra trường tại một đại học lớn ở Hoa Kỳ. Bố không đi học, các con cũng quanh quẩn San Jose State. Bây giờ có cháu ra trường to, đây cũng là dịp học hỏi về một khía cạnh của nền giáo dục tại Hoa Kỳ. Cũng nhân dịp này mới biết được quận hạt LA là vùng đất có nhiều trường đại học nhất thế giới.

Quý vị có biết LA bao gồm bao nhiêu trường đại học? Không đoán được đâu. Tính đến nay LA có 44 trường đại học với tổng số sinh viên là 200 ngàn.

Trong số 44 trường tại LA có đủ cả các loại. Trường công, trường tư, trường   đạo và các trường độc lập. Có trường đạo Do Thái chỉ vỏn vẹn 100 sinh viên cũng tốt nghiệp tiến sĩ thần học.

 Trong số đó có 5 trường công, sĩ số mỗi nơi trên 20,000 sinh viên. Polytechnic, đại học Long Beach, đại học LA, Northrige và ngôi trường vĩ đại nhất là UCLA với 40 ngàn sinh viên. Trong khi đó, về lãnh vực tư thì chỉ có USC là đông đảo nhất với khoảng 39,000. 

Hai ngôi trường này gần như cạnh nhau. Một công, một tư, kỳ phùng địch thủ.

USC v/s UCLA

Nhân dịp thăm miền Nam xin làm một chút so sánh. Trước hết trường công UCLA với 40 ngàn sinh viên quả thực là con số hết sức lớn lao. University California Los Angles.    

Trong đó có chừng 2,000 sinh viên ngoại quốc. UCLA có khoảng 3/4 theo học Bachelor và hơn 1/3 học Master. Vì là trường công nên con nhà bình dân, học các trường trung học trung bình, nhưng là học sinh thật xuất sắc sẽ có nhiều cơ hội được vào UCLA. Trong khi đó bên USC là trường tư, thường được coi là trường nhà giầu, học phí cao. Tuy nhiên nếu là học sinh xuất sắc cũng sẽ được học bổng đủ loại. Dù sao gia đình vẫn phải tài trợ cư trú và ăn uống.

USC có sĩ số từ 38 đến 39 ngàn sinh viên cũng không kém UCLA về sự đông đảo. Trường Nam CA này thành lập từ 1880 trong khi đó gần nửa thế kỷ sau UCLA mới ra đời vào năm 1919.

 

           

Từ 6 giờ sang đã xếp hang

 

Xem về tỷ lệ sắc dân thì con số Mỹ trắng cả 2 trường chỉ chiếm khoảng 1 phần 3 sinh viên. Bên UCLA 31% Mỹ trắng và bên USC chỉ có 38% Mỹ trắng.

Phía trường công UCLA có đến 127 phân khoa coi như đa dạng nhất thế giới. Trong khi đó bên USC chỉ có 45 phân khoa. Dù ở cạnh nhau, lớn mạnh ngang nhau nhưng đường lối công tư có nhiều khác biệt. Tuy nhiên điểm cạnh tranh khốc liệt nhất là tranh tài thể thao đặc biệt là Football.

Năm nào cũng đụng nhau và hận thù đằng đằng. Hai bên ăn thua quyết liệt. Rồi ảnh hưởng đến ban giám đốc trường, các cô trong ban cổ vũ, và đến các thành phần trong ban nhạc luôn luôn đi theo đội ban. Hầm hè hết sức.

Đứa cháu trai của chúng tôi lại là tay thổi kèn cho USC nên cháu cũng hết sức chống UCLA vả sẵn sàng không chơi với cả anh em họ đang học tại đây. Một điều nữa cần so sánh là số sinh viên ngoại quốc và các sắc dân theo học trường công UCLA chỉ có 2,000 nhưng bên trường tư USC có đến 7,200 sinh viên theo học từ 150 quốc gia toàn cầu. Trong đó Á Châu là một con số lớn lao.

 

 Ngày ra trường

 

Cá nhân chúng tôi chưa hề có kinh nghiệm gì về lễ ra trường của các sinh viên tại USC. Kỳ này đi theo các con để xem lễ ra trường của cháu. Gia đình chúng tôi gồm anh em họ hàng nội ngoại tất cả là 16 người từ các nơi kéo về để mừng cho cậu tân khoa. Thực ra tân khoa chỉ mới có bằng BS chứ đâu vương tướng gì. Nhưng đây là thành quả đèn sách của con cháu trong nhà nên chúng tôi cảm động và chào đón long trọng lắm.

USC năm nay gồm cả BS và MS ra trường có 14 ngàn sinh viên. Gần như nhà nào cũng có người đến dự lễ. Gia đình chúng tôi 16 người coi như khá đông đảo. Tuy nhiên từ bên Tàu, Đài Loan, Ấn Độ, Nhật, Đại Hàn, Châu Âu, Châu Úc, Nam Phi. Rồi từ 50 tiểu bang bà con sinh viên cùng kéo về dự. Hotel quanh vùng chật hết. Xe cộ vùng LA vốn đã đầy đường, lại gặp kỳ nầy nhiều chỗ phải xuống đi bộ.

Từ mấy ngày qua hằng trăm ông bà Mễ mặc đồng phục của công ty dịch vụ bầy ra khắp mọi nơi tổng cộng 50 ngàn ghế xếp và dựng 30 khung lều vĩ đại cùng với 4 khu nhà cầu khắp mọi nơi.

 Khung cảnh

Ngay từ 6 giờ sáng thứ sáu ngày 11 tháng 5-2012 các nẻo đường kéo vào hội trường đã kín người. Các sinh viên tốt nghiệp áo đen, áo đỏ với các dây tua đủ màu. Bằng tú tài, bằng cử nhân, bằng tiến sĩ. Các tân khoa mặc áo đeo dây tuyên dương với mầu sắc theo phẩm trật và theo các phân khoa.

Bản đồ in ra dán mọi nơi cho quan khách và sinh viên xếp hàng đúng chỗ mà tiến vào hội trường. Tuy nói là hội trường nhưng sự thực tất cả đều ngoài trời. Rất may là trời không mưa, không gió. Hơn 20 ngọn cờ đủ màu sắc chỉ dẫn các phân khoa khác nhau. Các vị khoa trưởng và phân khoa cầm cờ dẫn đầu cho các sinh viên vào vị trí. Tham mưu trưởng của đại học làm MC. Hệ thống âm thanh rõ ràng và hình chiếu trực tiếp trên các màn ảnh bên đường. Âm nhạc dồn dập.

Xem ra với 50 ngàn người tham dự, thì có đám phải ngồi rất xa, nhưng nghe âm thanh vang dội và coi hình trên màn ảnh cũng theo dõi đầy đủ diễn tiến.

Không khí náo nhiệt nhưng nhờ mọi người hết sức trật tự và yên lặng nên buổi lễ diễn tiến rất êm đẹp. 50 chục ngàn người kiên nhẫn ngồi suốt buổi sáng.. Chung quanh không một cọng rác. Hoa nở khắp mọi nơi. Hoa trồng bên đường và chung quanh các gốc cây. Không ai dẫm lên các luống hoa. Không tiếng gọi lớn, không có tiếng nói chuyện ồn ào. Tất cả đều xì xào khi cần nói với nhau. Rõ ràng là hình ảnh của nền văn minh có giáo dục. Tuy nhiên, ngay khi các diễn giả nói chuyện. Ai cần đi lại vẫn tự do. Không khí không như các lễ hội của các quốc gia độc tài. Lính tráng, sinh viên, và các quan khách phải ngồi như tượng đồng.

Diễn tiến

Xướng ngôn viên giới thiệu các thành phần tham dự. Cựu thống đốc Cali có mặt vì kỳ này có con mới vào và có con ra trường nhưng ông vẫn chỉ là quan khách như mọi người. Tám vị quan khách thành danh trong cuộc đời được nhận bằng tiến sĩ danh dự. Trong đó có bà phóng viên của CNN gốc người Trung Đông. Bà Amanpour nổi tiếng trong giới TV và đồng thời cũng là diễn giả của buổi lễ ra trường. Các vị cựu sinh viên cao niên ra trường trên nửa thế kỷ trước đi một đoàn xe lăn và chống gậy tiến vào vị trí khách danh dự. Một cụ ông Nhật Bản, ngày xưa học dở dang thì bị đi tập trung năm Nhật đánh Trân châu Cảng. Bây giờ được mời về trường nhận bẳng danh dự.Trong số 14 ngàn sinh viên ra trường kỳ này, xin nhắc lại có đến 4,000 sinh viên lãnh bằng cử nhân và 400 tiến sĩ.

Trên màn hình chiếu thật gần quang cảnh trung tâm buổi lễ cho thấy sự hiện diện của các lá cờ phân khoa với đầy đủ mầu sắc và huy hiệu. Nào là dấu hiệu của văn chương, kiến trúc, khoa học, thương mại, kỹ sư, nghệ thuật, luật pháp, truyền thông, nha khoa, giáo dục, y khoa, âm nhạc, dược khoa, xã hội, kịch nghệ, chính trị, địa chất, và sau cùng môn của cháu tôi học về phim ảnh điện toán, nhưng đi sâu vào công nghiệp dùng computer mà làm các trò chơi điện tử.

Đây là bộ môn mới có từ năm 2006 đến nay. Số người ra trường năm nay của ngành này mới chỉ có 25 sinh viên.

Máy phóng thanh cũng loan báo 4 sinh viên điểm cao nhất lại là 4 cô nữ sinh viên. Cô nữ thủ khoa cũng có dịp đọc bài diễn văn ra trường hết sức mạnh mẽ. Nhưng bọn trẻ phê bình rằng nội dung quá giáo điều toàn là những thứ ai cũng biết cả.

 Lễ phát bằng

Chắc quý vị cũng tự hỏi là làm sao tổ chức phát bằng cho 14 ngàn sinh viên. Việc tổ chức diễn tiến như thế này. Lễ nghi chính vào buổi sáng. Gần trưa là xong. Tiếp theo các Khoa chia khu vực trên 12 địa điểm để phát bằng.

nơi tổ chức trong nhà. Phần lớn trong các lều vĩ đại ngoài trời. Khoa về nghệ thuật thứ bảy Cinematic Arts và điện toán được ưu tiên xử dụng hý viện trang trọng của đại học.  Lần lượt các phân khoa của điện ảnh được gọi tên lên nhận bằng sau phần thủ tục thường lệ. Mỗi khoa trưởng của các phân khoa và các giáo sư đứng thành hàng dài để bắt tay giã từ sinh viên.Hàng ngàn phụ huynh tham dự ai cũng có máy chụp hình, máy quay phim nhưng tất cả đều hết sức tự chế, chỉ ngồi một chỗ mà đưa máy lên bấm lách cách. Khi MC đọc tên sinh viên thì cử tọa thân hữu reo ầm lên chào mừng. Sau buổi phát bằng kéo dài 2 giờ đồng hồ là phần tiếp tân của từng phân khoa. Tất cả đều có vé mời xếp hàng vào lấy thực phẩm rồi chia ra đứng theo từng nhóm gia đình. Không cần quan khách hay ban tổ chức nói tới nói lui, một phòng triển lãm hình ảnh của cuốn phim ăn khách nhất hiện nay với các nhân vật huyền thoại được trưng bày vì đây là phân khoa liên quan đến điện ảnh,

Phần kết luận

Tôi không thể nào quên giới thiệu với quý vị về sự tham dự ra sao của sinh viên Á Châu và Việt Nam. Trong số 14 ngàn sinh viên tốt nghiệp tại USC năm nay 2012, các sinh viên Á châu chiếm một tỷ lệ quan trọng gồm cả Ấn và Tàu. Thí dụ, tổng cộng có 24 sinh viên tốt nghiệp cử nhân về ngành kiến trúc vườn cảnh, Landcape Architecture. Đã có đến 14 sinh viên có bằng BS của đại học Tàu qua học USC thêm 2 năm để lấy MS.

Dù không chiếm con số đông đảo nhưng sinh viên Việt Nam rải rác mỗi trang trong số 250 trang danh sách tốt nghiệp. Các sinh viên họ Hồ Bội Ngọc, Hồ Thanh và Hồ Thu Dung trong trang 29. Họ Vũ chiếm trang 40. Họ Nguyễn có mặt cả phần BS và MS từ khoa học đến kế toán. Họ Lê và họ Đặng học về thương mại.

Cô Đinh Tuyết Anh đã tốt nghiệp BS tại UCLA học qua MD tại USC nay lấy thêm MS về Media Management.

Một chi tiết đáng kể khác là Vũ Hải Tùng tốp nghiệp BS đại học kỹ thuật Hà Nội nay qua lấy MS tại Hoa kỳ. Họ Lê được nêu danh 3 người nhận học vị tiến sĩ USC: Lê Xuân Hoàng đã có BS và MS tại George Mason. Lê Minh Thanh có BS tại UCSD và MS của UCLA. Lê Hồ Việt có BFA tại UC Fulleton, có MA tại USC và có thêm MFA tại UC Irvine. Anh này nộp luận án tiến sĩ với đề tài liên quan đến lịch sử lưu vong Diasporic từ Saigon đến Nam Vang.

Một nữ lưu khác, cô Thái Hạnh lấy bằng MS tại UC Berkely nay tốt nghiệp cử nhân tại USC với văn bằng về Cinematic, film and TV. Cô cũng lãnh bằng tại hí viện danh tiếng của USC cùng với đứa cháu nhà này vì cùng bộ môn. Duy cháu chúng tôi thì mới có BS sau bốn năm đèn sách và cũng trải qua đủ 4 mùa đi thổi kèn cho ban nhạc nổi danh của trường USC.

Suốt 4 năm dài cháu vừa học vừa thổi kèn đồng, áo nẹp đỏ, mũ tua vàng với bao nhiêu là công trình săn sóc của cha mẹ. Ông bà ngoại nào có ham gì chuyện football cũng một phen lặn lội đi xem thằng cháu thổi kèn tại trận cầu ở San Fran.

Sau cùng để đền đáp lại, cháu tôi chỉ còn tấm hình ra trường tặng mẹ nhân mùa Vu Lan Hoa kỳ gọi là món quà Mother's day 2012.

Cũng như bao nhiêu gia đình Việt Nam tại hải ngoại, mùa ra trường nếu các con tốt nghiệp trung học là đến giai đoạn tạm chia tay. Nếu tốt nghiệp đại học, sự xa cách còn dài hơn một bước. Trong niềm vui tốt nghiệp đã có nỗi buồn biệt ly. Dù chỉ là tú tài, cử nhân hay tiến sĩ thì dòng đời vẫn trôi chảy. Những gia đình trên thế giới gửi con học tại Hoa kỳ, hiện tại tươi sáng như phim mầu nhưng cuộc sống tương lai bất định. Những bà mẹ Âu Châu, Phi Châu, Á Châu và ngay cả Mỹ châu ôm đứa con trong mũ áo xênh xang, những giọt nước mắt vui mừng đã lẫn trong cả niềm âu lo tạm biệt ngay tại khuôn viên đại học USC vào mùa Motherday năm nay trên đất Mỹ. Mây tụ rồi mây tan, hoa nở để rồi tàn, người gần để ly biệt.

Hai tuần lễ trước ngày tốt nghiệp USC có đôi bạn sinh viên nam nữ Trung Hoa bị kẻ vô danh bắn chết dưới phố. Hai gia đình Tàu chờ đợi 4 năm, chuẩn bị qua Mỹ dự lễ ra trường phải vội vàng qua sớm để nhận xác con. Thiên đàng Mỹ quốc bỗng trở thành địa ngục. Một gia đình Mễ chui rào Cali, hạnh phúc thay kỳ này có thằng con ra tiến sĩ. Bà mẹ ngồi bên cạnh khoe rằng con trai Phd. lấy vợ Mỹ trắng, cả hai đang dạy đại học New York. Nhưng rồi đây vợ chồng bà sẽ trở về Stockton, sống bên thằng con út, trung học bỏ ngang, vừa dốt vừa ngu. Chắc nó sẽ không đi xa. Mỗi năm mẹ con đi xe đò đưa nhau về thăm xứ Mễ. Còn ông giáo sư gốc Mễ bên New York thì con vợ trí thức không cho đi. Bây giờ lên tiến sĩ thì lại càng khó về quê.

 Cũng y chang Việt Nam.[GC]    

 

           

 

 

 

Published in Chuyện San Jose

VIỆT-LONG / RFA

2012-05-12

Sáng thứ Ba 15 tháng 5 tại toà nhà Cannon của Quốc hội Liên Bang Hoa Kỳ đã diễn ra buổi điều trần do Uỷ hội nhân quyền Tom Lantos của Hạ viện tổ chức, với mục đích để Uỷ hội tham khảo ý kiến bộ ngoại giao Hoa Kỳ và một số nhân vật người gốc Việt hoạt động cho tự do nhân quyền ở Việt Nam.Sau đó Uỷ hội sẽ có những đề nghị đệ nạp Hạ viện và Thượng Viện Liên bang để có biện pháp bảo vệ nhân quyền, tự do tôn giáo cho người Việt Nam, đồng thời thúc đẩy hành pháp có hành động về vấn đề này.  Ông Võ Văn Ái đang lên tiếng tại quốc hội Hoa Kỳ. Getty Images
Chủ  toạ buổi điều trần, cũng là đồng chủ tịch Uỷ Hội nhân quyền Tom Lantos của Hạ viện Liên bang Hoa Kỳ, dân biểu Frank Wolf, tuyên bố rằng những quyền lợi chung về an ninh và kinh tế đã khiến Hoa Kỳ và Việt Nam củng cố nền bang giao trên nhiều lãnh vực, nhưng cùng lúc, chính quyền Việt Nam càng gia tăng đàn áp tôn giáo và nhân quyền ở trong nước.
Hà Nội dùng những luật lệ mơ hồ đề đàn áp những người tranh đấu cho dân chủ và tôn giáo, đàn áp những luật gia bênh vực nhân quyền và những nhà báo công dân.
Uỷ hội mở cuộc điều trần hôm nay nhằm thu thập ý kiến từ nhữngviên chức, tổ chức có liên quan đến vấn đề nhân quyền và tự do tôn giáo, tự do phát biểu ở Việt Nam, để trình bày với Quốc hội và tìm biện pháp sau này.  
Nhân chứng thuyết trình viên thứ nhất là Phụ tá Ngoại trưởng Hoa Kỳ về dân chủ, nhân quyền và lao động, ông Michael Posner.

 

Đàn áp tôn giáo, kiểm soát báo chí

Phụ tá Ngoại trưởng Posner tuyên bố nhân quyền tại Việt Nam đang bị suy thoái trầm trọng, gây quan ngại không ít cho chính phủ Hoa Kỳ. Ông đề cập đến những vấn đề gây khổ nhọc cho người dân Việt, gồm những hành động của Hà Nội như:
- Tiếp tục bắt giữ và giam nhốt nhiều người chỉ vì họ thực thi quyền tự do tôn giáo, tự do phát  biểu, như linh mục Nguyễn Văn Lý ,blogger Điếu cày Nguyễn Văn Hải, luật sư Lê Công Định. Bộ ngoại giao yêu cầu Việt Nam lập tức trả tự do cho những tu sĩ và nhà báo công dân đang gặp cảnh tương tự.
- Tiếp tục hạn chế quyền tự do thông tin, tăng cường kiểm duyệt, ban hành những luật lệ quy định bó buộc nội dung các trang web và blog, khép chặt và kiểm soát các hoạt động internet,
- Sách nhiễu GHPGVNTN cũng như nhiều tín đồ Phật giáo Hoà hảo, Cao Đài không quy phục Giáo hội Nhà nước. Việc đăng ký của các giáo hội Tin Lành đã suy kém nhiều từ mấy năm nay. Nhà nước Việt Nam hứa đẩy mạnh việc đó, nhưng không làm; Nhà nước hứa cho dịch Kinh Thánh sang tiếng H’Mong, cũng không làm.
Phụ tá Ngoại trưởng Michael Posner cho biết bộ ngoại giao và toà đại sứ Mỹ tại Hà Nội thường xuyên nói chuyện và làm việc với chính quyền Hà Nội về những vấn đề này, có mở đối thoại về nhân quyền với Hà Nội . Dân biểu chủ toạ hỏi kết quả cụ thể những việc làm đó, ông Posner cho biết bộ ngoại giao vẫn tiếp tục nêu những vấn đề ấy với Hà Nội, đã nói rõ với Hà Nội là Hoa Kỳ không thể hài lòng với tình trạng tự do nhân quyền như vậy.Dân biểu Frank Wolf hỏi phụ tá ngoại trưởng Posner đánh giá tình trang nhân quyền ở Việt Nam ra sao, hạng A,B,C, hay D, ông Michael  Posner nói tình trạng đó phải đánh giá là KHÔNG THỂ CHẤP NHẬN ĐƯỢC. Dân biểu đồng Chủ tịch Uỷ Hội nhân quyền Tom Lantos của Hạ viện Liên bang Hoa Kỳ, chủ toạ buổi điều trần, hỏi nếu ông đề nghị toà đại sứ Mỹ tại Việt Nam mời một số người bất đồng chính kiến và thân nhân của những nhà dân chủ đang bị giam cầm đến một buổi tiếp tân tại toà Đại sứ nhân ngày lễ quốc khánh Hoa Kỳ  mùng 4 tháng 7 này, thì toà
Bà Ngô Mai Hương, vợ của TS Nguyễn Quốc Quân đại sứ có làm được không.  Ông Posner trả lời sẽ nói chuyện với đại sứ David Shear và toà đại sứ sẽ làm được việc đó

Việt kiều bị gán tội khủng bố


Phần điều trần tiếp theo là của bà Nguyễn Mai Hương,vợ tiến sĩ Nguyễn quốc Quân, người vừa bị bắt giam hôm 17 tháng tư khi trở về Việt Nam.
Bà cho biết ông Quân nói với bà là phải về Việt Nam để tìm hiểu và chia sẻ hoàn cảnh của những người bị giam nhốt vì thực hiện quyền tự do bày tỏ ý kiến, nhưng đã bị bắt ngay khi xuống phi trường. Ông gọi cho bà lần cuối là từ phi trường ngày hôm ấy, sau đó ông bị giam nhốt, bị gán tội khủng bố. Laptop của ông bị nói là chứa tài liệu phản động, nhưng thực ra trong đó chỉ là những bài vở giảng dạy của ông về vấn đề lãnh đạo. Bà cho biết toà lãnh sự Mỹ tại Sài Gòn đã giúp đỡ rất tích cực trong việc tiếp xúc với ông Quân, nhưng khi bà gởi nhờ đưa quần áo cho ông thay đổi thì nhân viên toà lãnh sự được trả lời là phải chờ kỳ thăm hàng tháng sắp tới vào cuối tháng 5 này. Dân biểu Frank Wolf hỏi bà Mai Hương có ai ở bộ ngoại giao tiếp xúc với bà ở Mỹ không, bà trả lời không.  Dân biểu Wolf quay sang hỏi Phụ tá Ngoại trưởng Posner, ông Posner nói bộ ngoại giao sẽ tiếp xúc với bà Mai Hương ngay chiều nay.
Bà Mai Hương thình cầu hành pháp và lập pháp Mỹ cũng can thiệp cho những trường hợp như của ông Nguyễn Xuân Nghĩa, luât gia Cù Huy Hà Vũ, cùng những trường hợp tương tự.


Đàn áp bằng bạo lực

 
Nhà hoạt động nhân quyền và tôn giáo Võ Văn Ái, người sáng lập và là Giám đốc cơ sở Quê Mẹ, tổ chức hoạt động cho dân chủ tại Việt Nam, trình bày trước Uỷ hội về tình trạng đàn áp nhân quyền, tự do tư tưởng và tự do tôn giáo tại Việt Nam. Ông nói GHPGVNTN bị cấm đoán tuyệt đối, Đại lão Hoà Thượng Thích Quảng Độ bị quản chế ngặt nghèo vô thời hạn dù Ngài chỉ hoạt động ôn hoà cho quyền tự do tôn giáo.  Linh mục Nguyễn Văn Lý bị đưa vào trại giam trở lại. 177 tù nhân chính trị đang bị tù tội, Việt Nam luôn luôn nói với quốc tế là không có tù chính trị, nhưng tại trại tù Xuân Lộc tù nhân chính trị mặc áo tù có hai chữ C.T., tức là chính trị, để phân biệt với thường phạm. Nhiều người hoạt động chính trị ôn hoà bị án nặng nề, trong đó phải kể tới doanh nhân Trần Huỳnh Duy Thức , luật sư Cù Huy Hà Vũ, các blogger của Công giáo bị ghép tội lật đổ, 16 tín đồ Hoà Hảo, các ông Đỗ Văn Thái, Nguyễn Hữu Cầu, ông Nguyễn Hữu Cầu đã viết 500 lá thư nói là ông vô  tội, nhưng không hề có trả lời, hiện đang rất suy yếu, mắt đã gần mù. Tù nhân ở Việt Nam phải bỏ tiền túi mua thực phẩm cho đủ sống. Ông Võ Văn Ái cũng đề cập tới những vụ cưỡng chế đất đai, đuổi nhà đuổi đất  ở Tiên Lãng, Văn Giang, Vụ Bản.
Chính quyền đã sử dụng bạo lực tối đa. Việt Nam dùng những cuộc đối thoại nhân quyền với Hoa Kỳ để che đạy hay tìm thêm thời gian cho việc đàn áp nhân quyền. Ông đề nghị Quốc hội Mỹ đồng tình đưa Việt Nam trở lại danh sách CPC.
Luật sư Đỗ Phủ của cơ sở truyền thông SBTN ở Hoa Kỳ điều trần về vấn đề chính quyền Hà Nội đàn áp giới truyền thông độc lập trong nước, cả những  hoạt  động trên những mạng giao tế xã hội như facebook, tweeter cũng bị cấm đoán. 
Chính quyền kiểm soát chặt chẽ trên 550 tờ báo ngày và tạp chí, được coi la báo chí lề phải, trong khi đàn áp các blogger và các nhà báo công dân. Ông nhắc đến chiến dịch 150 ngàn chữ ký nạp lên toà Bạch Ốc để đòi hỏi nhân quyền cho Việt Nam.
Ông kể trường hợp của nhạc sĩ Việt Khang đã bị bắt giam chỉ vì sáng tác nhạc kêu gọi lực lượng công an thể hiện lòng nhân ái với đồng bào Việt Nam của họ. Hà Nội còn kiểm soát mọi liên lạc internet, kể cả liên lạc điện thoại, buộc người sử dụng phải tiết lộ căn cước khi mua thẻ sim và chỉ được dùng một số thẻ nhất định. 
Luật sư Đỗ Phủ cũng yêu cầu chính quyền Hoa Kỳ nói chuyện với Việt Nam để huỷ bỏ luật lệ Việt Nam buộc những công dân Hoa Kỳ   phải làm nghĩa vụ của công dân Việt Nam khi về nước,  hay cả ở ngoại quốc, ví dụ như làm nghĩa vụ quân sự, vì Hà Nội vẫn đương nhiên coi người Việt hải ngoại như vẫn là công dân Việt Nam. Ông Đỗ Phủ cho rằng công khai hoá vấn đề nhân quyền tại Việt Nam như Tổng thống Obama nhắc đến ông Điếu Cày trong ngày báo chí thế giới vừa qua là điều rất tốt. Tuy nhiên LS Đỗ Phủ cũng cho rằng hành pháp Hoa Kỳ cả hai nhiệm kỳ vừa qua đều không đủ mạnh mẽ khi bảo vệ cho tự do và nhân quyền tại Việt Nam. Ông ca ngợi việc toà đại sứ sẽ mời những thân nhân và những người tranh đấu ở Việt Nam đến vào dịp 4 tháng 7 này.

2 triệu chữ ký, điện thoại

Dân biểu Frank Wolf hỏi bà Mai Hương có muốn đi thăm chồng, và SBTN/TV có sẵn sàng làm phóng sự về buổi tiếp tân tại toà đại sứ Mỹ ở Hà Nội với gia đình những người tranh đấu đang bị giam nhốt hay không, Bà Mai Hương và ông Đỗ Phủ đều trả lời đó là điều mong muốn của họ. Dân biểu Frank Wolf nói ông sẽ tìm cách để nhân viên toà đại sứ đón bà Mai Hương ở phi trường và lo cho việc bà được thăm chồng, là Tiến Sĩ Nguyễn Quốc Quân.  Vị dân biểu cũng nói với luật sư Đỗ Phủ, ông sẽ can thiệp để SBTN tường trình truyền hình cuộc tiếp tân tại toà đại sứ Mỹ ở Hà Nội vào ngày quốc khánh Hoa Kỳ mùng 4 tháng 7 sắp tới.Dân biểu Wolf cũng nói với LS Đỗ Phủ là ông sẽ nói chuyện với công ty Google để công ty này trao đổi với ông Đỗ Phủ về công việc của  Google tại Việt Nam. Tiến sĩ Robert George, Uỷ viên của Uỷ hội Hoa Kỳ về tự do tôn giáo toàn thế giới, điều trần sau cùng. Ông mạnh mẽ lên án tình trạng xâm phạm nhân quyền và tự do tôn giáo tại Việt Nam, mạnh mẽ đề nghị Quốc hội và chính phủ Hoa Kỳ đưa Việt Nam trở lại danh sách CPC, là điều có lợi cho cả chính quyền lẫn người dân Việt Nam. Ông nói khi Việt Nam ở danh sách này từ năm 2004 đến 2006, Việt Nam đã tỏ ra tiến bộ nhiều về tự do tôn giáo, nhưng vừa ra khỏi danh sách là lại vi phạm tiếp tục. 
Dân biểu Frank Wolf hỏi LS Đỗ Phủ hiện có bao nhiêu người Việt ở Hoa Kỳ. Được trả lời là 2 triệu người, dân biểu Wolf hỏi liệu có quy tụ đủ 2 triệu chữ ký, 2 triệu cú điện thoại cho nghị sĩ, dân biểu Quốc hội để yêu cầu đưa Việt Nam vào danh sách CPC hay không, LS Đỗ Phủ nói có thể được, và sẽ cố gắng thực hiện.-Nguồn RFA

Published in Tin trong tuần


 *Từ Phương Lệ Chi đến Trần Quang Thành

   “Chưa bao giờ tình hữu nghị Mỹ - Trung thắm thiết như ngày hôm nay”.  Tôi đã phải bật cười khi nhìn bà Ngoại trưởng Hillary Clinton, người luôn luôn có bộ mặt đăm đăm không cười, nói một câu khôi hài duyên dáng sau chuyến viếng thăm Trung cộng đầu tháng 5 năm 2012.  Nhà thơ T.S. Elliot có câu nổi tiếng: “Tháng Tư là tháng độc ác nhất trong năm.”  Tháng 4 năm 2012 không tử tế lắm với xã hội hài hòa của Hồ Cẩm Đào và sao quả tạ chiếu xuống phơi bày bộ mặt trái đảng cộng sản Trung Quốc từ trong ra ngoài.  Tháng 4, 2012, chẳng những bang giao giữa Hoa Kỳ và Trung Hoa căng thẳng mà Trung Cộng còn phải đối phó với các quốc gia khác; các nhà đấu tranh môi sinh chiếm tòa đại sứ Trung Cộng ở Quito, cộng hòa xích đạo Ecuador, biểu tình chống Trung Cộng xây đập nước Myitsone ở Bắc Miến Điện, công nhân hãng dầu Trung Hoa bị bắt cóc ở Sudan và biển Đông vẫn tiếp tục dậy sóng với sự khiêu khích của Hải quân Trung Cộng. Tự hào về cách dùng quyền lực mềm mỏng, chính quyền Trung Cộng cũng đã bị phản đối mạnh mẽ ở Luân Đôn ngày hội báo chí, họ bị các nhà văn quốc tế phản đối mạnh mẽ về vấn đề kiểm duyệt báo chí và thông tin ở Trung Hoa.


Biến cố Trùng Khánh

     Giao đoạn chuyển tiếp yên ổn từ Giang Trạch Dân qua Hồ Cẩm Đào không thấy đến cho tân Hoàng Đế Tập Cận Bình và tướng Lý Khắc Cương trong năm 2013 qua kỳ đại hội đảng cộng sản Trung Quốc lần thứ 18, 91 năm thành lập đảng, vào mùa thu năm nay.

Các nhà quan sát thời cuộc đã xem biến cố Trùng Khánh là biến cố quan trọng nhất kể từ biến cố Thiên An Môn năm 1989.  Ngày 14 tháng 3 được nhớ là ngày đàn áp đẫm máu ở Tây Tạng trước kỳ thế vận hội 8/8/08 nay lại ngày đánh dấu biến cố Trùng Khánh.  Với sự thanh trừng bí thư đảng Bạc Hy Lai, biến cố Trùng Khánh trùng với ngày lễ Kinh Trập của người Hoa, kéo dài từ ngày 5 đến ngày 20, mặt trời di chuyển từ kinh tuyến 345 độ đến 360 độ, thời tiết nóng, sâu bọ thức dậy.  Biến cố Trùng Khánh cho cả thế giới thấy sâu bọ làm người.
Câu chuyện bắt đầu từ ngày 6 tháng 2, khi Vương Lập Quân cảnh sát trưởng Trùng Khánh, chạy 200 dặm từ Trùng Khánh đến Thành Đô ở Tứ Xuyên, vào tòa lãnh sự Mỹ trú ẩn.  Cả hai phía Hoa Kỳ và Trung Cộng cho đến nay đều không tiết lộ chi tiết. Hoa Kỳ nói họ Vương đến tòa lãnh sự có hẹn trước và ngày hôm sau tự ý rời lãnh sự nhưng cảnh sát công an đứng đợi sẵn để bắt giam ông Vương. Quốc Hội Hoa Kỳ đã la ó, phàn nàn tòa lãnh sự đã bỏ lỡ cơ hội khai thác tài liệu họ Vương đã đem đến trong đó có nhiều chi tiết về chín ông hoàng trong bộ chính trị trung ương đánh nhau tranh quyền.
Tất cả câu chuyện từ cảnh sát trưởng họ Vương cho đến bí thư Bạc Hy Lai đến bà Cốc Khai Lai vợ ông Bạc đầu độc thương gia Neil Hywood cho đến nay đều đến từ tin đồn và giống như những tin đồn của những cuộc đảo chánh “thật giả khó phân”.  Trong tin đồn thật có câu chuyện tranh chấp quyền hành giữa Bạc Hy Lai và bộ chính trị trung ương với tham vọng thành một trong chín ông hoàng trong kỳ đại hội đảng cộng sản Trung Quốc sắp đến. Câu chuyện tham nhũng của họ Bạc, lương cán bộ có con đi học trung học Harrow ở Luân Đôn, vào trường Oxford và Harvard, lái xe Porch, là câu chuyện bình thường của cán bộ cộng sản. “Cướp đêm là giặc, cướp ngày là quan” vừa cướp đêm lẫn cướp ngày là bí thư đảng cộng sản ai cũng rõ. Chuyện buôn bán giữa bà Cốc Hy Lai với tình nhân người Anh cũng chưa có bằng cớ chính xác có tin đồn họ Vương đã đưa tài liệu vì vậy bị Cốc phu nhân hăm giết. Ông Neil Hywood, mang tiếng thương gia nhưng không tiền, nên bị nghi là gián điệp cơ quan phản gián MI6 vì lái xe Porche mang bảng số 007 nhưng tài ba không bằng James Bond nên cái chết bị nghi là đầu độc chứ không vì rượu hồi tháng 11 năm 2011. Cả đời không biết uống rượu, sau khi chết xác bị thiêu ngay nên sự nghi ngờ đầu độc có thể tin nhưng chính quyền Anh phủ nhận ông Heywood là gián điệp. Tin đồn còn cho là chỉ huy quân đội Trùng Khánh Chu Dung Khang và họ Bạc âm mưu đảo chính chính quyền Bắc Kinh. Họ Bạc biến mất sau cuộc thanh trừng.
   

Thành phố Trùng Khánh. Getty Images


Tình, Tiền, Thù, chuyện không có gì lạ trong thời chế độ quân chủ chuyên chế từ Pháp với bà Medicis qua Anh với Lady McBeth cho đến Tàu đời nhà Hán 202 trước Thiên Chúa, khi Vương Thái Hậu nắm quyền, cậu vua con có nàng hầu eo nhỏ, người mỏng manh nhẹ như con chim se sẻ nhảy trên bàn tay đô lực sĩ, sau bà đầu độc giết con thành lệ truyền xuống sau nghìn năm đến thời Từ Hy Thái Hậu.
Bạc Hy Lai là người có hai bộ mặt. Những người ủng hộ họ Bạc gọi ông là “người hùng ngã ngựa” vì đương đầu với Hồ-Ôn, nhữg nhà tranh đấu nhân quyền tố cáo Vương Lập Quân làm việc cho họ Bạc đã giết trên 2,000 người không đem ra tòa từ đảng viên tham nhũng hối lộ, đối lập và giết tù nhân kể cả tù nhân Pháp Luân Công bán nội tạng nhiều hơn các thành phố khác. Hai sự kiện rõ rệt sau những tin đồn: lãnh tụ địa phương làm loạn, đạp trên luật lệ (điều không có gì lạ vớI những ông quan thời cộng sản) và khác biệt chính trị.
Trùng Khánh là một trong 4 thành phố trung ương tập quyền ở Trung Hoa ngoài Bắc Kinh, Thượng Hải và Thiên Tân. Trong thập niên 1930 và 1940, Trùng Khánh là nơi chế tạo vũ khí cho Quốc Dân Đảng, hiện nay Trùng Khánh là trung tâm kinh tế 32 triệu dân ở vùng Tây Nam Trung Hoa.
Mô hình Trùng Khánh bắt đầu từ năm 2007 khi Bạc Hy Lai về làm bí thư (sau khi ông bố, một trong Bát Đại lão của Mao Trạch Đông, mất cùng năm) được cả nước chú ý nhất là những năm sau này.
Hai mươi năm trước, khi Tổng bí thư Đặng Tiểu Bình thăm các tỉnh miền Nam kêu gọi phải cải tổ nhanh hơn thì kinh tế đã phát triển mạnh, công ty quốc doanh được tư nhân hóa nhưng lại sinh ra thất nghiệp, lạm phát, cán bộ cướp nhà cướp đất, sự gia tăng khác biệt giữa người giàu và nghèo gia tăng. Trung Hoa phải đối diện với ba ngọn núi mới “học phí cao, giá nhà gia tăng quá mức và chi phí y tế không kham được”.  Đến thời Hồ Cẩm Đào và Ôn Gia Bảo, họ chỉ lo củng cố địa vị, nói cải tổ chính trị nhưng không thực hiện, vẫn một đảng Mafia. Thủ tướng Ôn Gia Bảo có một bộ mặt thân thiện với các chính quyền Âu Mỹ nhưng là cánh tay mặt của Hồ Cẩm Đào.
Mô hình Trùng Khánh bắt đầu năm 2007, trùng với khủng hoảng kinh tế thế giới, khác với mô hình Bắc Kinh. Mô hình kinh tế Trùng Khánh nhắm vào sự đầu tư thương mại và phát triển, nhắm vào bình đẳng, cán bộ được khuyến cáo “ăn, sống và làm việc giống như dân”, chống các tội ác có tổ chức, mọi người được khuyến khích phát biểu ở các buổi họp công cộng.  Các quan sát viên thế giới công nhận mô hình Trùng Khánh là một cải tổ sâu rộng nhất từ ngày Mao Trạch Đông chết năm 1978. Mô hình Trùng Khánh luôn luôn thay đổi, nhắm vào công lý, phân chia đất đai, dân được cấp bẳng khoán đất, giá nhà chung cư không đắt đỏ, các công ty thương mại nhắm chiều hướng toàn cầu.
Ngày 18 tháng 3 năm 2012, ủy ban cải tổ Bắc Kinh do nhóm “tân tả” nhắm vào tư hữu hóa giáo dục, xe hỏa, y tế, truyền thống, điện lực v.v…đã nhắm vào Trùng Khánh.  Với dáng điệu đẹp trai, Bạc Hy Lai là một cái gai cho Bắc Kinh nhất là đối với hai bí thư
Trùng Khánh tiền nhiệm Vương Dương đương kim tỉnh trưởng Quảng Đông sẽ là 1 trong 9 ông hoàng và Hẹ Quốc Giang giám đốc kỷ luật của đảng cầm đầu cuộc điều tra vợ chồng họ Bạc. Thủ tướng Ôn Gia Bảo họp báo ngày 14/3/12 sau hai buổi họp ở Quốc Hội và Hội nghị chính trị đã công nhận sự thành công của Trùng Khánh nhưng sau đó đổi giọng chỉ trích Bạc Hy Lai dính líu với cách mạng văn hóa. Họ Ôn không cho ký giả đặt câu hỏi. Cùng ngày công an đến Trùng Khánh. Ngày 15/3 Phó thủ tướng Giang đến Trùng Khánh cách chức họ Bạc. Không khí chính trị giống như biến cố Lâm Bưu năm 1971. Tin tức được lựa chọn hay giả tạo được phóng ra cùng lúc, các tin tức của New York Times, Financial Times và Wall Street Journal cũng như Đại Kỷ Nguyên (Epoch Times của Pháp Luân Công) loan tin không khác các báo và tin mạng lưới của chính quyền Trung Cộng. Đặc biệt là mạng Weibo bị đóng nhưng mạng tin chống chính quyền vẫn bị cấm của Pháp Luân Công ngày hôm đó lại không bị chận. Có lẽ đảng cộng sản Trung Quốc muốn cho thấy bộ mặt xấu của Bạc Hy Lai giết đệ tử Pháp Luân Công nhưng ai cũng hiểu Hồ Cẩm Đào và Ôn Gia Bảo đối xử độc ác với đối lập không kém Bạc Hy Lai.


Các nhà đấu tranh nhân quyền

Biến cố Trùng Khánh đưa bộ mặt cướp đất cướp tiền của đảng cộng sản Trung Quốc ra ánh sáng chưa hết dư âm thì bộ mặt cướp quyền làm người, cướp quyền sống của đảng cộng sản Trung Quốc lại được đưa ra công chúng trước ngày bà Ngoại Trưởng Hillary Clinton đến Bắc Kinh qua vụ luật sư Trần Quang Thành (Chen Guangcheng). Tin tức về Trần Quang Thành rõ hơn vụ Bạc Hy Lai, không phải là tin đồn. Nhà luật sư mù từ nhỏ sau một cơn sốt (có lẽ biến chứng bệnh viêm màng óc) năm nay 41 tuổi, tự học luật sau khi hành nghề đông y sĩ, được đảng ca ngợi đưa ra làm gương học tập nhưng đảng trở mặt bỏ tù 4 năm về tội “phá hoại tài sản công” “tụ tập cản trở lưu thông” năm 2006. Ra khỏi tù, Trần Quang Thành bị giam tại gia từ 2010. Họ Trần làm đảng cộng sản khó chịu khi yêu cầu thủ tướng Ôn Gia Bảo phải bảo vệ an ninh cho vợ con ông và cho Ôn Gia Bảo “một cơ hội chót cải tổ hệ thống chính trị độc đảng”. Ngày 22/4/2012, Trần
Quang Thành đợi đến tối lén ra khỏi nhà, leo tường trốn, trước đó ông đào hầm nhưng thất bại. Nhờ nhóm đấu tranh nhân quyền giúp, nhà đấu tranh nhân quyền cho phụ nữ và chống ép phá thai Trần Quang Thành đến tị nạn tại tòa Đại Sứ Hoa Kỳ ở Bắc Kinh cách 300 dặm.
Trần Quang Thành đã nổi tiếng năm 2007, được giải nhân quyền Ramon Magsaysay thường được gọi là giải Nobel Hòa Bình của Châu Á và là một trong 180 người, được tuần báo Time chọn, thay đổi bộ mặt thế giới. Ngày phát giải vợ của Trần Quang Thành, là Hu Jia bị lấy thông hành, điện thoại di động bị tịch thu. Giống như trường hợp của Lưu Hiểu Ba, không ai đại diện Trần Quang Thành nhận giải, chiếc ghế bị bỏ trống.
Sau 6 ngày thương lượng, luật sư Trần Quang Thành được đưa ra khỏi tòa đại sứ Mỹ đến chữa bệnh tại một bệnh viện ở Bắc Kinh và sẽ đi du học Hoa Kỳ trái với ước muốn của anh nhưng đây là một thất bại của bà Clinton. Thủ tướng Ôn Gia Bảo được giữ mặt mũi bằng cách chứng minh cho thế giới biết Trần Quang Thành chỉ bị chính quyền địa phương quấy nhiễu, đẩy được những nhà đấu tranh nhân quyền ra khỏi nước là ước muốn của đảng cộng sản. Ra ngoại quốc, theo thời gian tiếng nói các nhà đấu tranh tắt dần như trường hợp Ngụy Kính Sinh, linh hồn bức tường dân chủ, đến Mỹ năm 1997 nay ở trong bóng tối, sống nhờ trợ giúp bạn bè, tiền đọc diễn văn. Đa số những nhà lưu vong vắng tiếng vì thiếu lãnh đạo.
Vương Lập Quân trong cơn khủng hoảng chạy vào tòa lãnh sự, Trần Quang Thành vào tòa đại sứ có tính toán. Con đường vào tòa lãnh sự không phải là con đường tị nạn khỏi Trung Cộng, không chuyến máy bay nào có thể rời khỏi Bắc Kinh qua vòng vây cảnh sát. Trong quá khứ, chỉ có một người trốn vào tòa đại sứ Hoa Kỳ ở Bắc Kinh được đưa ra khỏi nước sau 13 tháng ở căn phòng chung cư dưới hầm tòa đại sứ
(Có hai khu nhà của tòa đại sứ, một ở bên trong và một vòng ngoài dưới sự kiểm soát của Bắc Kinh, khi vụ Trần Quang Thành xảy ra người ta không thấy cảnh sát bao vây chung cư bên ngoài nên đã biết Trần Quang Thành ở chung cư dưới hầm). Giáo sư Phương Lệ Chi (Fang Lizhi) một ngày sau thảm sát Thiên An Môn, trốn vào tòa đại sứ Mỹ. Sau 13 tháng điều đình, để gỡ mặt mũi cho Đặng Tiểu Bình, Tiến Sĩ Kissinger yêu cầu giáo sư Fang viết tờ tự khai, bản tự khai của ông không có nghĩa nhận tội, giúp Hoa Kỳ đưa ông qua Anh, từ Anh về Arizona làm giáo sư Vật lý không gian. Giáo sư Fang gia nhập đảng
Cộng sản, đảng viên xuất sắc nhưng cũng bị tố trong kỳ cách mạng văn hóa, đi học tập cải tạo ở vùng mỏ than, ông học lý thuyết vật lý không gian sau khi cải tạo vì chỉ có ngành này mới theo đuổi được mà không cần dùng đến vật liệu trong thời kỳ Cộng sản.
Làm viện trưởng viện kỹ thuật khoa học ở An Huy trong thời Đặng Tiểu Bình khi ông này chủ trương “Hiện đại hóa với đặc tính Trung Hoa” (có nghĩa là hiện đại với quyền lợi đảng, không chia xẻ đều cho mọi người) ông giáo sư đã nhái hỏi sinh viên: “Liệu các anh có tin Vật lý với đặc tính Trung Hoa?”. Vì những câu nói châm chọc như vậy năm 1987 ông bị đuổi ra khỏi đảng, ngược lại ông trở nên  nổi tiếng trong giới trí thức khắp nơi trong nước.
Giáo sư Phương Lệ Chi, Lưu Hiểu Ba, Hồ Bình, Trần Quang Thành thuộc giới trí thức đấu tranh nhân quyền có chung một đặc điểm: bắt đầu với lý tưởng xã hội chủ nghĩa, vào đảng cộng sản rồi về sau cảm thấy cay đắng vì lý tưởng bị phản bội, họ chỉ trích chế độ rồi bị ở tù hay bị đày lưu vong nước ngoài. Riêng giáo sư Phương Lệ Chi, khoa học đã dẫn ông vào con đường tranh đấu nhân quyền vì năm lý do: 1/ Khoa học bắt đầu bằng sự nghi ngờ, nhờ nghi ngờ khoa học tiến bộ trong khi đám đảng viên của Mao Trạch Đông chỉ có một niềm tin cứng ngắc Marx Lenin lỗi thời. 2/ Khoa học dựa vào những phán đoán độc lập không phán xét một cách hồ đồ như những con người Cộng sản. 3/ Khoa học bình đẳng đưa đến xã hội bình đẳng. 4/ Khoa học cần tin tức, cần thông tin dự kiện chính xác đầy đủ không bị dấu nhẹm như tin tức tuyên truyền cộng sản. 5/ Khoa học tìm ra sự thật, sự thật được phơi bày, sự thật như nhân quyền, phổ thông ở khắp nơi không thay đổi vì chính trị.
Nhờ giáo sư Phương Lệ Chi mà từ cuối thập niên 1980 chữ nhân quyền được dân Trung Hoa biết đến và nhân quyền phổ thông từ miệng người dân qua đến mạng lưới thông tin.
Sau ngày thảm sát Thiên An Môn 4/6/1989, giáo sư Phương Lệ Chi bị đảng cộng sản Trung Quốc xem là “bàn tay đen” nổi tiếng nhất trong giới trí thức cần phải bịt miệng ngược lại những năm gần đây luật sư Trần Quang Thành nổi tiếng trong giới bình dân.Giáo sư Phương Lệ Chi mất ở Arizona Hoa Kỳ ngày 6/4/2012, ông vẫn mang trên vai bản án chống phá cách mạng.Ngày bà ngoại trưởng Clinton rời Bắc Kinh, báo chí của chính quyền Trung Cộng hậm hực với ông Gary Locke “chính đại sứ là kẻ gây rối loạn”. Trong vụ Trần Quang Thành, ông đại sứ Hoa Kỳ kín tiếng, nhưng hình ảnh ông tân đại sứ Mỹ gốc Hoa mang ba lô, tự mua ly cà phê Starbucks ở phi trường không cận vệ không người hầu hạ khác hẳn các ông quan cộng sản ở Bắc Kinh, đã in đậm vào lòng dân Trung Hoa thèm khát dân chủ.
Ly cà phê Starbucks mầu nhiệm đã kéo cựu chủ tịch Giang Trạch Dân 85 tuổi ra ánh sáng sau nhiều tin đồn đảng Cộng Sản Trung Quốc dấu tin ông đã chết. Mỗi sáng trước khi đến bệnh viện tôi ghé qua Café Starbucks, nhưng tôi không ngờ ly cà phê trên tay ông đại sứ Gary Locke lại nguy hiểm cho đảng Cộng Sản Trung Quốc hơn là viên thuốc của Bạc phu nhân đầu độc ông Neil Hywood!


Việt Nguyên

 

07/05/2012
 

    

 

Published in Bình luận

Tháng 4 đen, ngậm ngùi nhìn lại dĩ vãng.......
 TS LEWIS SORLEY
TRẦN ĐỖ CUNG chuyển ngữ


Kỳ 4 - Tiếp theo và hết


PHẦN 7 .- TỔNG TẤN CÔNG PHỤC SINH 1972


Thành quả Việt-Nam-Hóa-Chiến-Tranh và việc bình định nông thôn khiến cho đối phương phải tìm một phương án khác. Đó là cuộc tấn công Phục Sinh. Douglas Pike viết: “Không còn là một cuôc chiến cách mạng nữa, và theo quan niệm của Võ Nguyên Giáp thì phải qua giai đoạn chiến tranh quy ước nhỏ giống như ở Triều Tiên.”
Trong vài ngày về Mỹ John Paul Vann đã trình bầy hiện tình Việt Nam trước một cử tọa giáo sư chọn lọc. “Họ dựa vào các giới chức dân cử xã ấp khi kinh tế tăng trưởng, an ninh tiến bộ và chiến tranh đã chuyển sang Cao Mên và Lào. Sự thực là 95% dân chúng muốn lưu giữ chính quyền hiện tại hơn là một chính phủ cộng sản hay một cơ cấu do bên kia đưa ra”.
Theo lịch sử ghi chép của Quân Đội Nhân Dân thì kế hoạch tấn công 1972 được chấp thuận bởi Ban Quân Ủy Trung Ương từ tháng Sáu 1971. Mục tiêu là chiến thắng vào năm 1972 làm cho quân Mỹ xâm lược phải thưong thảo trong thế yếu. Ông Pike diễn giải, “đó là một cuộc tấn công toàn diện với nhân lực, khí giới và tiếp vận quy mô. Vào giữa mùa Hè tất cả 14 Sư Đoàn Bắc Quân rời khỏi Bắc Việt. Chúng xử dụng nhiều thiếp giáp và đại pháo nặng hơn QLVNCH và đạn dược cũng không giới hạn”.
Cuối tháng Ba 1972 địch tiến hành một cuộc xâm lăng cổ điển với 20 Sư đoàn và một trận chiến tàn bạo sắt máu đã xẩy ra. Ông Douglas Pike viết, “Cuộc tấn công được sửa soạn công phu đã bị bẻ gẫy vì không yểm làm cho chúng không tập hợp được và vì sự chống trả dũng cảm và kiên trì của quân Nam Việt. Bắc Quân và hệ thống giao thông của chúng đã bị triệt hạ nặng. Nhưng chính yếu là QLVNCH và cả Địa Phương Quân đã hiên ngang chống trả như chưa từng thấy”.
Quân tổn hại 100,000 người trong số 200,000 xung trận và có lẽ 40,000 đã bị giết. Họ đã mất già nửa thiết giáp và đại pháo. Sẽ cần ba năm để hồi phục trước khi tấn công lại và Tướng Võ Nguyên Giáp bay khỏi chức Tổng Tư Lệnh. Trái lại Nam Quân mất 8,000 tử vong, gần ba lần thương binh và vào khoảng 3,500 mất tích. Tướng Giáp đã tính sai và phải trả một giá đắt cho lỗi lầm ấy. Ông Pike kết luận: “Giáp đã ước sai lòng quyết tâm và sự chống trả mãnh liệt của Quân Nam Việt. Hắn sai lầm về sức đề kháng của QLVNCH”.
Về sau nhiều người chỉ trích nói rằng Nam Quân đã đẩy lui được Bắc Quân nhờ có không yểm của Mỹ. Tướng Abrams đã phản ứng mạnh mẽ và nói với các cấp chỉ huy của ông rằng, “Tôi không tin là không có không trợ mọi việc đã giữ vững được. Tuy nhiên phải có những người Việt Nam đứng thẳng chiến đấu. Nếu họ không dũng cảm làm như vậy thì đến mười lần không quân cũng không chận đứng được bọn cộng sản”.
Bọn chỉ trích cũng triệt hạ QLVNCH cho rằng họ sống sót được là nhờ Quân Mỹ. Không một ai nhớ rằng 300,000 Quân Mỹ phải đóng ở Tây Đức là vì người Đức không thể chống lại Nga Xô Viết hay nhóm Liên Minh Warsaw nếu không có Quân Mỹ. Họ cũng quên là 50,000 Quân Mỹ phải lưu lại Nam Hàn để giúp trong trường hợp bọn Bắc tấn công. Và không ai đã nghĩ rằng vì Quân Mỹ hiện diện nên phải chê bai và chế riễu Quân Đội Tây Đức cũng như Nam Hàn. Chỉ có Nam Việt bị tách rời ra để bôi nhọ một cách bất công và ác độc mặc dầu chỉ được không trợ chớ không được Quân Lực Mỹ hỗ trợ như Đức hay Cao Ly.
Quân Nam Việt đã thực sự đánh bại cuộc tấn công Phục Sinh 1972 với xương máu và lòng quả cảm. Đại Tướng Abrams nói với Tổng Thống Thiệu rằng “nhờ khả năng bén nhậy của các cấp chỉ huy nên đã gặt hái thành quả và họ đã chứng tỏ đủ bản lĩnh đương đầu với cuộc thử thách. Những anh hùng bảo quốc Nam Việt đã giáng cho quân xâm lăng một đòn chí tử khiến cho chúng cần ba năm nữa mới có thể mở lại một cuộc tấn công quy mô”. Tuy nhiên trong khi ấy bao nhiêu thay đổi hệ trọng đã xẩy ra trên một bình diện rộng lớn hơn.
QLVNCH đã trở thành một lá chắn thiện nghệ, nhanh nhẹn và quyết tâm cho xứ sở của họ. Tuy nhiên họ đã bị bôi nhọ bởi những luận điệu tiêu cực gồm cả vu khống của bọn phản đối Hoa Kỳ tham gia cuộc chiến hay ít nhất chính sự tham gia của cá nhân họ hay bọn thân cộng. Trái lại đã có bao nhiêu thành tích rõ ràng trên trận địa hồi cuối Xuân và trong mùa Hè 1972.
PHẦN 8 .- BỎ RƠI
Phần này bàn về tình hình sau khi Hiệp Định Paris được ký kết vào tháng Giêng 1973. Để dụ Việt Nam thỏa thuận điều mà họ cho là quá sai lầm khi cho Bắc Việt được để lại miền Nam một lực lượng lớn, Tổng Thống Nixon đã hứa với Tổng Thống Thiệu rằng nếu Bắc Việt bội ước và lại tấn công Nam Việt thì Hoa Kỳ sẽ can thiệp mạnh mẽ để trừng phạt chúng. Và Nixon nói thêm, nếu chiến tranh trở lại, nước Mỹ cam kết thay thế các chiến cụ trên căn bản một đổi một theo như điều khoàn của Hiệp định Paris (chiến xa, trọng pháo vv). Sau nữa Hoa Kỳ sẽ tiếp tục viện trợ kinh tế tài chánh cho Việt Nam. Thật ra, Hoa Kỳ đã bội ước tất cả các khoản kể ra.
Trong khi ấy thì Bắc Việt đã nhận viện trợ không tiền khoáng hậu của các quan thầy. Theo một cuốn sử xuất bản tại Hà Nội năm 1994 thì trong vòng chín tháng sau khi ký kết Hiệp Định Paris, từ tháng Giêng đến tháng Chín 1973, Bắc Việt đã gửi tiếp tế vào Nam bằng bốn lần năm vừa qua. Dầu vậy con số còn nhỏ nhoi so với lượng chúng đưa vào Nam từ đầu 1974 cho đến ngày chấm dứt cuộc chiến năm 1975. Trong vòng mười sáu tháng, theo tài liệu cộng sản, thì bằng 1.6 lần quân viện trong cả mười ba năm.
Nếu chính phủ Nam Việt không ký Hiệp Định thì không những Hoa Kỳ sẽ đơn phương tính với bên kia mà Quốc Hội Mỹ cũng nhanh chóng cắt hết viện trợ. Mặt khác nếu Việt Nam chấp thuận Hiệp Định với hy vọng sẽ tiếp tục nhận viện trợ Mỹ thì họ bắt buộc phải chấp nhận tình trạng Bắc Quân sẽ trú đóng một cách nguy hiểm trên lãnh thổ. Nam Việt đã quyết định phương án thứ nhì, một tiên liệu quyết tử để thấy một cách đau đớn là phải chấp nhận cả hai việc tồi nhất, quân Bắc Việt trong lãnh thổ và viện trợ Mỹ chấm dứt.
Nguyên Tổng Trưởng Quốc Phòng Melvin Laird giải thích hệ quả như sau. “Trong hai năm sau Hiệp Định, Nam Việt đã can đảm chống lại một cách đáng nể một địch quân được yểm trợ tối đa. Hoà đàm Bắc Nam vẫn tiếp tục cho đến ngày mà Quốc Hội cắt hẳn viện trợ vào năm 1975. Và Nam Việt nhanh chóng bị tràn ngập. Chúng ta đã tiết kiệm được khoảng 257 triệu mỗi năm và làm cho Nam Việt xụp đổ sau khi đã chiến đấu dũng mãnh từ năm 1973 không có sự giúp đỡ của quân Mỹ.
Nhiều người Mỹ không thích nghe rằng bọn độc tài Nga Xô và Trung Hoa đã tỏ ra đáng tin cậy hơn là nước Mỹ Dân Chủ. Nhưng đó là sự thật phũ phàng. Phóng viên William Tuohy đã nhiều năm phúc trình cuộc chiến cho Washington Post viết, “một chuyện không tin được và không tha thứ được là một đại cường quốc đã bỏ rơi đồng minh yếu kém vào tay bọn Bắc Cộng. Nhưng chúng ta đã làm như vậy”.
Binh sỹ Nam Việt can đảm chiến đấu cho đến khi viện trợ bị cắt dần dần rồi ngưng hẳn. Trong vòng hai năm sau khi ký Hiệp Định Paris Nam Việt đã mất 59,000 quân tức là nhiều hơn số quân Mỹ tử trận trong mười năm. Nếu nghĩ rằng dân số Nam Việt chỉ bằng một phần mười Mỹ Quốc thì ta thấy rằng sư thiệt hại hết sức thảm khốc và cường độ trận chiến đã cao như thế nào.
Bà Merle Pribbenow nhấn mạnh rắng sự ghi nhận của Bắc Việt cho thấy trong 55 ngày cuối cùng họ đã phải đương đầu với một chiến cuộc hết sức gay go. Đó là một chiến tích đáng ghi cho Nam Việt khi họ biết là kết cục sẽ chắc chắn như thế nào. Đại Tướng Bắc Quân Lê Trọng Tấn đã ghi, “Trong giai đoạn cuối cùng Quân Y của chúng ta đã phải di tản và chữa chạy cho quá nhiều thương binh, 15 lần nhiều hơn trong trận chiến biên giới, 1.5 lần hơn trận Điện Biên Phủ và 2.5 lần nhiều hơn trong trận Hạ Lào”. Bà Pribbenow chiết tính là “Quân Đội Nhân Dân đã chịu tối thiểu từ 40,000 đến 50,000 thương binh và có thể còn nhiều hơn nữa, nghĩa là còn cao hơn tổng số tổn thất lúc QLVNCH xụp đổ theo nhận xét của các sử gia”.
Đại Tá William LeGro đã ở lại DAO đến phút chót đã có một cái nhìn chính xác về sự việc. Ông nói: “Sự gỉảm quân viện Mỹ cho đến gần số không là lý do đưa đến sự sụp đổ cuối cùng”. Ông nói thêm, “Chúng ta đã làm một việc hết sức quái gở với người bạn Việt Nam.”
Gần đến ngày cuối, ông Tom Polgar đứng đầu CIA Sài Gòn gửi một điện văn ngắn ngủi: “Kết quả quá rõ ràng vì Nam Việt không thể sống sót nếu không có quân viện Mỹ trong khi khả năng chiến tranh của Bắc Việt vẫn giữ nguyên với sự trợ lực của Nga Xô Viết và Trung Cộng”.
Sau chiến tranh tình hình trở nên quá đen tối như người ta sợ. Phóng viên Seith Adams của New York Times viết về hoàn cảnh Đông Nam Á một cách xác đáng và cảm động như sau. “Hơn một triệu người Nam Việt bỏ xứ. Khoảng 400,000 người bị đầy vào các trại cải tạo, một ít trong thời gian ngắn nhưng nhiều người đã bị giam giữ đến mười bẩy năm. Một triệu rưởi dân bị cưỡng bách đi các vùng ‘kinh tế mới là những nơi hoang dã trong hoàn cảnh đói kém và bệnh tật”.
Cựu Đại Tá Việt Cộng Phạm Xuân Ẩn mô tả sự vỡ mộng của y với kết quả chiến thắng của cộng sản đã áp đặt như thế nào lên xứ sở. Ông ta phàn nàn, “tất cả các lý luận về ‘giải phóng’ trong hai mươi, ba mươi hay bốn mươi năm qua đã gây ra một xứ sở nghèo nàn và rách nát lãnh đạo bởi một lũ ác độc, một bọn lý thuyết gia ít học và chuyên chế”.

Đại Tá Bắc Quân Bùi Tín cũng thẳng thắn nói về hậu quả cho cả những người chiến thắng: “Thật là quá chậm cho thế hệ tôi, một thế hệ của chiến tranh, của chiến thắng và bội phản. Chúng tôi đã thắng nhưng chúng tôi cũng đã thua.”
Sư cố gắng của những người miền Nam trong một cuộc tranh đấu dai dẳng cuối cùng là một thảm trạng. Quân đội đã mất 275,000 người chết trong khi chiến đấu. 450,000 dân bi hy sinh, phần đông do khủng bố cộng sản hoặc bị chết trong những cuộc pháo kích bừa bãi vào các đô thị và thêm 935,000 người nữa bị thương.
Trong số cả triệu người trở thành thuyền nhân một số có thể rất cao đã bỏ mạng trên biển cả. Có lẽ 65,000 người đã bị hành quyết bởi bọn tự xưng là giải phóng. Khoảng 250,000 hay hơn nữa đã chết trong các trại tù “cải tạo” man rợ. Hai triệu người bị đẩy ra khỏi quê cha đất tổ để trở thành một diaspora Việt Nam.
Ta không thể hoàn toàn xác định giá trị của QLVNCH mà không nói đến các cựu chiến binh bị đầy khỏi xứ với các gia đình của họ hầu lập nghiệp lại trên đất Mỹ. Đó chính là một câu chuyện khác về sự can đảm, quyết tâm và thành quả. Đã biết quá rõ tính chất của bọn mạo danh là “giải phóng”, một băng đảng luôn luôn giết hại, gây thương tích, bắt cóc và ức chế hàng ngàn dân vô tội, nên họ bỏ chạy hàng loạt khi sự chống đỡ tan rã.
May thay nhiều người đã thoát được đến bờ bến tự do làm lại đời mới. Mỹ Quốc may mắn đón nhận một triệu di dân Việt Nam là một tăng tiến cho văn hóa và một đóng góp đáng kể vào phúc lợi của chúng ta. Với một quyết tâm và cần cù không tưởng tượng được, những người Mỹ mới này đã dậy dỗ con cái, nuôi sống gia đình và lợi dụng các cơ hội mà xứ sở này đã dành cho bất cứ ai tham gia vào xã hội. Đó chính là những người đã bao năm đem xương máu ra chiến đấu cho quê hương cũ trong hàng ngũ QLVNCH. Chúng ta đã bỏ rơi họ và những hy sinh của họ đã thành vô nghĩa. Tuy nhiên cưu mang họ trên đất này đã cho chúng ta đền tội đôi phần.

KẾT LUẬN
Để kết luận, tôi chỉ xin nói rằng cuộc chiến Việt Nam là một cuộc chiến giá trị, bởi người Nam Việt và các đồng minh của họ bảo vệ một mục đích cao đẹp. Tất cả các chiến binh đều đã tham chiến với một tấm lòng vô biên và họ đã gần như đạt được mục đích bảo đảm cho NamViệt có tự do như một quốc gia độc lập. Có lần một phóng viên đã nhận xét rằng Đại Tướng Creighton Abrams phải được chỉ huy một cuộc chiến hay hơn. Tôi đã nói câu ấy cho trưởng nam của Tướng Abrahms và được phản hồi ngay; “Cha tôi không nhìn như vậy. Ông nghĩ rằng người Nam Việt rất xứng đáng”. Và tôi đồng ý.
Tóm lại, đối chiếu biểu của QLVNCH bao gồm cả địa phương và nghĩa quân trong năm 1970 rất tích cực. Rốt cục chúng ta đã không thắng trận, tuy nhiên tinh thần, sự tận tâm, can đảm và lòng quyết chí của tất cả các chiến binh đã nẩy nở thăng hoa trên đất nước này. Chúng ta đều cùng tiến tới.
Tài liệu tham chiếu:

1. “Bibliography Periodicals” của Douglas Pike.
2. “History Proves Vietnam Victors Wrong” của James Webb.
3. “The Development of the South Vietnamese Army” của Thiếu Tướng James Lawton Collins Jr
4. “Senior Officer Debriefing Report, CG II Field Force, Vietnam, 29-3-1966 của Đại Tướng Fred C. Weyand.
5. “Message Abrams to Johnson, MAC 5307, 04950Z 6-1967.
6. “Lt-General Dong Van Khuyen, RVNAF Logistics”.
7. “Time, 19 April 1968”
8. “Letter, General Bruce C. Clarke to General Hal C. Pattison”
9. “The History of the Joint Chief of Staff: The Joint Chief of Staff and the War in Vietnam, 1960-1968”
10. “Brigadier Geberal Zeb B. Bradford Jr. Interview, 12 October 1989”
11. “Message, Abrams to Wheeler and McCain, October 1968”
12. “William Colby, ‘Vietnam after McNamara’, The Wahington Post 27-4-1995”.
13. “Ambassador Ellsworth Bunker, Thayer Award Address”.
14. “John Paul Vann, Remarks, Lexington, Kentucky, 1972”.
15. “Brigadier General Tran Dinh Tho, The Cambodian Incursion”.
16. “Geoffrey Perret, There’s a War to be Won”.
17. “Message, Cliff Snyder, National Archives to Sorley”.
18. “An example of LCol Cau Lê 47 Regiment Commander, 12 years in combat and 13 years prisoner of the communist, awarded Silver Star and Bronze Star for valorous combat leadership. Le and his family established a new life in America after his wife Kieu Van had worked as a nurse to support their five children until her husband was released from captivity. See Robert F. Dorr and Fred L. Borch, ‘US Medals’”.
19. “General Cao Van Vien et al, the US Advisor”.
20. ”Lt General Ngo Quang Truong, Territorial Forces”.
21. ”General Creighton Abrams at WIEU, 18 April 1973”
22. “Thomas Polgar as quoted in J. Edward Lee and Toby Haynsworth”
23. “Colonel LeGro as quoted in L. Edward Lê and Toby Haynsworth”
24. “Ambassador Ellsworth Bunker, Oral History Interview”
25. “Quoted in Jeffrey J. Clarke, Advice and Support”
26. “As reported by Major General George J. Forsythe, following a 20 January 1968 meeting with President Thieu”
27. “Joint Chiefs of Staff, the History of the Joint Chiefs of Staff”
28. “Notes by Vicent Davis on telecom during which Vann described his 15 December 1969 Presentation at Princeton”.
29. “Lester A, Sobel, ed,. South Vietnam. US Communist Confrontation in Southeast Asia .
30. “Remarks, Lexington, Kentucky 1972, Vann papers”
31. “Ellsworth Bunker Interview, Duke University, Living History Project”
32. “WIEU, 30 January 1973, in Sorley, Vietnam Chronicles”
33. “COMUS Update, 16 February 1971”

34. “Briefing with Admiral McCain, 19 February 1971”

35. “Commanders Weekly Intelligence Update, 20 February 1971”

36. “Message, LtGeneral James W. Sutherland to Abrams, March 1971, Special Abrams Papers Collection”

37. “COMUS with Sir Robert Thompson, 25 March 1971”

38. “Secretary of the Army Brief, 26 April 1971”

39. “Major General Nguyen Duy Hinh, Lam Son 719”

40. “Military Institute of Vietnam, Victory in Vietnam (University Press of Kansas)”

41. “John Paul Vann, Letter to Henry Cabot Lodge, 9 December 1969, Vann Papers”

42. “Message, Barnes to Weyand, March 1972, MHI files”

43. “Lưu Van Loi and Nguyen Anh Vu (Le Duc Tho and Kissinger Negociation in Paris”

44. “Remarks, Lexington, Kentucky 8 January 1972, Vann Papers”

45. “Douglas Pike, ‘A Look Back at the Vietnam War: the View from Hanoi ’”

46. “Douglas Pike, PAVN, People’s Army of Vietnam”

47. “Message, Abrams to Laird, May 1972”

48. “Melvin R. Laird, “Iraq: Learning the Lesson of Vietnam”

49. “The Washington Post (28 December 1968)”

50. “James L. Buckley, ‘Vietnam and its Aftermath’ in Anthony T. Bouscaren, ed.”

51. “Merle L. Pribbenow, Message to Sorley, 1 May 2002”

52. “Seth Mydams, ‘A War Story Missing Pages’, The New York Times 24 April 2000”
 
53. “Vietnam Magazine Auguat 1990”

54. “The Boston Globe, 20 April 2000”

55. “Colonel Stuart Herrington, Fall of Saigon, Discovery Channel, 1 May 1995”

56. “Australian Minister for Immigration Michael McKeller was quoted as saying that ‘about half the boat people perished at sea’. Thus he said in 1979, ‘We are looking at a death rate of between 100,000 and 200,000 in the last four years’. The Age Newspaper, The Boat People: an Age Investigation”

Published in Diễn đàn

 Trước những hành động gần đây của Bắc Kinh nhằm gây hấn trên biển và ngăn cấm ngư dân Phi và Việt Nam đánh cá trong vùng hải phận quốc tế, cư dân gốc Phi và gốc Việt ở Hoa Kỳ đã nhiều lần biểu tình trước các cơ sở ngoại giao Trung Quốc để phản đối.

 Tuần trước người Phi đã biểu tình. Tuần này vào sáng Chủ Nhật 20-5 tới đây người Việt từ nhiều thành phố quanh vùng San Francisco sẽ kéo về biểu tình trước Tổng Lãnh sự quán Việt Nam, rồi sau qua Tổng Lãnh sự quán Trung Quốc.

 Dưới đây là một số hình ảnh về cuộc biểu tình của người Phi vào trưa ngày thứ Sáu 11-5

 

 

 Họ yêu cầu Bắc Kinh tôn trọng các công ước quốc tế về luật biển

 

 

 Bảng chữ để lại trên hàng rào trước cơ sở ngoại giao nói: Trung Quốc không phải là rồng, mà nước này là rắn và luật đặc khu kinh tế trong vòng 200 hải lí đã có từ lâu đời ở Đông nam Á

 

 

  Các báo của cộng đồng người Philippines ở vùng San Francisco đều đưa tin và bình luận về những động thái gần đây của Trung Quốc

 

Published in Tin trong tuần

 Bốn mươi hai năm sau hành động hy sinh dũng cảm của mình để cứu mạng sống những đồng đội trong chiến tranh Việt Nam, Specialist Leslie H. Sabo, Jr. của quân chủng Bộ binh vừa được truy tặng Huân Chương Danh Dự trong một buổi lễ được tổ chức tại tòa Bạch Ốc hôm thứ Tư vừa qua. Tổng Thống Obama đã trao tặng huân chương anh dũng cao quí nhất nước cho bà quả phụ của ông, Rose Mary Brown, và người em trai, George Sabo.

 TT Obama trao huy chương cao quí nhất của Hoa Kỳ cho bà Rose Mary Sabo-Brown,

quả phụ Leslie Sabo ngày 16 tháng 5, 2012. Getty Images

  Ông Sabo, lúc ấy mới 22 tuổi, tử trận ngày 10 tháng Năm, 1970 khi đội quân tuần tiểu của ông bị phục kích tại một địa điểm hẻo lánh gần biên giới với Cambodia.  Cuộc tấn công của quân đội Bắc Việt đã giết chết bảy đồng đội của ông thuộc Sư Đoàn Không Vận 101, và cuộc tấn công này về sau được gọi là “cuộc phục kích ngày Lễ Mẹ”. Một thông báo từ tòa Bạch Ốc trong tháng 4 đã mô tả cách Sabo dùng thân của ông để khóa họng súng của quân thù như thế nào trong cuộc chạm súng ấy.

Theo bản thông báo này, Sabo đã tấn công vào vị trí của kẻ thù và hạ sát nhiều bộ đội Bắc Việt trong khi kéo hỏa lực của địch ra khỏi đơn vị của ông. Sau đó, Sabo đã dùng thân của ông để che chở cho một đồng đội bị trọng thương.  Tuy đã bị thương vì trúng đạn của địch quân, ông Sabo đã cố gắng bò đến hầm trú ẩn của đối phương và thả vào một quả lựu đạn “khóa họng súng của địch quân, nhưng cũng kết liễu cuộc đời của Specialist Sabo”.

 Bản thông báo còn nói thêm “lòng cam đảm bất khuất và sự bất chấp mọi hiểm nguy của Sabo đã cứu mạng sống của nhiều binh sĩ trong trung đội của ông”.Cấp chỉ huy của Sabo đề nghị trao Huân Chương Danh Dự cho ông, nhưng có lẽ hồ sơ nộp không đúng cách và cuối cùng đã bị thất lạc. Một chiến dịch nhằm sửa sai lỗi lầm trên đã được phát động trong năm 1999 khi Tony Mabb, một chuyên viên nghiên cứu cho tạp chí của hội ái hữu Sư Đoàn Không Vận 101, tình cờ bắt gặp một hồ sơ dày cộm về Sabo trong Thư Khố Quốc Gia.

 Ông Mabb liên lạc với các vị dân cử lo về việc kéo dài thời gian giới hạn của sự đề cử cho Huân Chương Danh Dự để trường hợp của ông Sabo được cứu xét.  Theo luật, đề cử cho Huân Chương Danh Dự phải được tiến hành trong vòng ba năm sau khi sự kiện xảy ra. Sau khi luật xóa bỏ giới hạn đó được thông qua vào năm 2008, đề nghị Sabo được truy tặng Huân Chương Danh Dự từ quân chủng Bộ binh được chuyển đến tòa Bạch Ốc trong năm 2010.  Trong tháng rồi, tòa Bạch Ốc công bố Tổng Thống Obama sẽ trao tặng Huân Chương Danh Dự cho gia đình của ông Sabo.

Ông Sabo từ Áo quốc di cư sang Hoa Kỳ cùng gia đình khi còn bé thơ.  Ông gặp Rose Mary trong một trận banh bầu dục tại trường trung học.  Họ thành hôn năm 1969 sau khi quen nhau hai năm và sau khi Sabo nhận được giấy báo quân dịch.Trước khi được chuyển sang chiến đấu tại Việt Nam, Sabo được nghỉ phép 30 ngày, và 30 ngày này là thời gian duy nhất Rose Mary và ông sống chung với nhau như vợ chồng trước khi ông tử trận trong tháng Năm sau đó.

Trong tháng rồi, bà Brown kể với Ban Tin Tức Bộ Binh như sau: “Tôi chẳng còn thể nào hãnh diện về anh ấy hơn được nữa.  Anh Leslie mà tôi biết sẵn sàng hy sinh mạng sống của mình cho bất cứ ai.  Anh sẽ lột chiếc áo duy nhất trên lưng cho bạn.  Đó là bản chất con người của anh.” (Theo bản tin của Luis Martinez, ABC News) 

Published in Nhân vật

 Trong một thông cáo báo chí sáng thứ Năm ngày 17 tháng 5 năm 2012, Tổng thống Barack Obama tuyên bố một số đề cử cho các cá nhân vào vai trò quản trị quan trọng. Trong đó có ông Derek J. Mitchell sẽ nắm giữ vai trò Đại sứ Liên bang Miến Điện của Bộ Ngoại giao. Bên cạnh đó, có 2 người Mỹ gốc Việt cũng được bổ nhiệm chức vụ Thành viên Ban Giám đốc Quỹ Giáo dục Việt Nam: Cô Anhlan P. Nguyễn và Quyên Vương.

Tổng thống Obama nói: "Những cá nhân này đã cống hiến sự nghiệp và sự hiểu biết của họ. Tôi biết ơn họ và đã chọn lựa họ để đưa vào những vai trò quan trọng. Và tôi mong được làm việc với họ trong những ngày tháng tới."

Được biết Đại sứ Derek J. Mitchell, người được đề cử cho Đại sứ Liên bang Miến Điện của Bộ Ngoại giao đã từng làm Trợ lý Quốc phòng châu Á và Thái Bình Dương về vấn đề an ninh. Ông bắt đầu sự nghiệp của mình với chức vụ Trợ lý Cố vấn chính sách cao cấp nước ngoài cho Thượng nghị sĩ Edward M. Kennedy.

Về phần hai người gốc Việt, ghi nhận cô Anhlan P. Nguyễn là một người phụ trách dự án về Công nghệ tại trường đại học Texas MD Anderson Cancer Center và là Chủ tịch Hội đồng quản trị Văn hóa Việt Nam và Hiệp hội Khoa học. Cô có bằng Cử nhân và Thạc sĩ về môn Computer Science tại Đại học Toronto, Canada.

Và gương mặt Việt thứ hai trong lần bổ nhiệm Thành viên Ban Giám đốc của Quỹ Giáo dục Việt Nam là cô Quyên Vương. Một cái tên khá quen thuộc của cộng đồng người Việt tại vùng Bay Area. Cô Vương Ngọc Quyên hiện là Giám đốc điều hành của Mạng lưới hỗ trợ trẻ em quốc tếở San Jose, California hay còn gọi là ICAN. Đây là một tổ chức cô đồng sáng lập vào năm 2000. Ngoài ra, cô cũng là một thành viên hội đồng quản trị của Quỹ Liên kết Thái Bình Dương, một tổ chức cô đồng sáng lập vào năm 2001, và là thành viên sáng lập của Mạng Việt Nam phi chính phủ của Mỹ được hình thành từ năm 2004. Cô được biết đến như một người hoạt động từ thiện rất tích cực. Cô Quyên nhận được chương trình Fulbright năm 1989 và làm việc với Cao Ủy Liên Hiệp Quốc về người tị nạn ở Hồng Kông. Cô tốt nghiệp bằng Cử nhân Kinh tế tại Đại học Yale, và bằng MBA của trường Đại học Stanford Graduate School of Business.- Trúc Hà ghi

Published in Nhân vật
Page 1 of 3

 

 

Articles View Hits
719536
VietTribune.com is an online newspaper owned by Viet Tribune Media Corporation. All rights reserved. 2012