A+ A A-
Tuesday, 07 February 2012 00:19

Viet Tribune 296

 

TRONG SỐ NÀY

 

 

 

03 Thời cuộc: Hành trang năm cũ.

 

HOÀNG NGỌC NGUYÊN

 

 

 

04 Phân tích: 2011: Một năm mất mùa!

 

NGUYỄN-XUÂN NGHĨA

 

 

 

10 Biên khảo: Hội nghị Siem Reap: Một thoả hiệp mong manh.

 

NGÔ THẾ VINH

 

 

 

13 Tổng kết: Những biến động của năm 2011.

 

THS tổng hợp

 

 

 

18 Sổ tay thường dân: Chuyện buồn cuối năm.

 

TƯỞNG NĂNG TIẾN

 

 

 

20-21 Tản mạn: Chào mừng năm 2012 và câu hỏi đầu năm.

 

TRƯƠNGGIA VY

 

 

 

24 Chuyện San Jose: Đường vào An Lộc - Bài 6

 

GIAO CHỈ-SJ

 

 

 

26 Ký sự: Cuối năm nhìn lại, tiếc nhớ gì và hy vọng gì?

 

BÙI VĂN PHÚ

 

 

 

28 Tin một cột: 2012: Năm của máy tablet!

 

THANH SƠN Tổng hợp

 

 

 

28 Tin ngắn: Facebook tại VN sắp được giải toả?

 

THANH SƠN Tổng hợp

 

 

 

29 Cộng đồng tuần qua: Liên đoàn cử tri phát quà Giáng Sinh.

 

LÊ BÌNH

 

 

 

31 Sự kiện: Báo in thời khủng hoảng.

 

THS Tổng hợp

 

 

 

33 Tin đó…đây: New York: Điểm đón năm mới ưa chuộng nhất.

 

THS Tổng hợp

 

 

 

35 Văn hoá: Ngày lễ cuối năm: Mùa bội thu của Champagne.

 

TUẤN THẢO

 

 

 

 

 

PHẦN B: ĐỜI SỐNG

 

 

 

B1 Gia đình: Bạo hành trong cộng đồng người Việt.

 

                   THIÊN THƠ/BPSOS

 

 

 

B1 Đời sống: 2012, dự luật tiểu bang giúp cải thiện phẩm chất nước.

 

VANESSA WHITE

 

 

 

B1 Đời sống: Kết quả kiểm nghiệm: Sửa bột Enfamil an toàn.

 

                   T.H.

 

 

 

B1 Xã hội: Mặc đồ ông già Noel, giết 6 người thân thuộc.

 

                   T.H.

 

 

 

B1 Sức khoẻ: Du khách đến Bali xâm mình có thể bị HIV.

 

                   T.H.

 

 

 

B1 Đời sống: Pháp kêu gọi tháo bỏ các túi độn ngực PIP.

 

VOA

 

 

 

B2 Chuyện di trú: Di trú: Nhìn lại năm 2011 - Hướng đến năm 2012.

 

LÊ MINH HẢI

 

 

 

B2 Truyện ngắn: Sàigòn và tôi.

 

TRẦN MỘNG TÚ

 

 

 

B3 Kỹ thuật & Đời sống: Bệnh đau nhức do điện thoại di động và tablet.

 

THANH PHƯƠNG

 

 

 

B3 Sức khoẻ & Bạn: Tại sao người Việt ở Hoa Kỳ hay bị bệnh tiểu đường?

 

 BS NGUYỄN ĐÌNH PHÙNG

 

 

 

B4 Gỡ rối: Kể chuyện đời xưa.

 

HỒNG KHUÊ

 

 

 

B4 Ẩm thực: Quà ngon Hà nội.

 

MAMA CHI-TRÚC HÀ ghi

 

 

 

B4 Sức khoẻ: Vài điều về trái chuối.

 

CH U TẤT TIẾN

 

 

 

B5 Đời sống: Cây đàn trị giá 172,000 MK được trả về cho chủ.

 

S.T.

 

 

 

B6 Sức khỏe: Ngò bị thu hồi vì sợ nhiễm khuẩn Salmonella .

 

T.H.

 

 

 

B7 Lịch cuối tuần

 

 

 

 

 

PHẦN C – ĐỊA ỐC-ĐẦU TƯ & THƯƠNG MẠI

 

 

 

 

 

C1 Địa ốc & Đời sống: Cuối năm bàn chuyện ăn chơi!

 

ANDREW NHÂN LƯU

 

 

 

C1 Tâm tình địa ốc: Những khoản tiền phải đóng khi mua nhà?

 

                   TRINA VÕ

 

 

 

C1 Nhà cửa trong nước: Một ngôi nhà gỗ ở Bắc Giang: 3 triệu đô la.

 

XALUAN.COM

 

 

 

C1 Nhà đất trong nước: Giới có tiền Sài gòn Hà nội vẫn “say” bất động sản.

 

                   LAN HƯƠNG

 

 

 

C2 Nhà cửa: Người mua thì sẵn sàng mà người bán thì chán nản!

 

VŨ ĐỨC HIỀN

 

 

 

 

 

VĂN NGHỆ - GIẢI TR Í

 

 

 

C3 Ẩm thực: Mua rượu theo điểm số.

 

LÊ VĂN

 

 

 

C3 Phóng sự: Một thế giới lẫn lộn giữa người sống và người chết.

 

                   TRẦN VIỆT TRÌNH

 

 

 

C3 Văn học: Tản mạn chó.

 

NGUYỆT HẠ

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Published in News

Người có nhu cầu mua nhà tin rằng đây là thời điểm rất tốt để mua nhà. Bởi vì, giá nhà đang trong lúc rất rẻ, lại vay được tiền ngân hàng với mức lãi suất cũng vô cùng thấp. Tuy nhiên, các người dự tính bán nhà lại gần như nghĩ rằng đây không phải là lúc tốt để bán nhà. Lý do được nêu ra là khó tìm được người khách hàng chịu mua với giá mình muốn bán, căn cứ theo một cuộc khảo cứu của Hiệp Hội Ngân Hàng Tài Trợ Địa Ốc (MBA) công bố hồi Thứ Ba 20/12 vừa qua. Cuộc khảo cứu có tựa đề “Cuộc đại suy thoái và thái độ về mua nhà” do giáo sư Gary V. Engelhardt, giáo sư của trường đại học Syracuse, thực hiện dưới sự bảo trợ của MBA. Cuộc khảo cứu lấy căn bản từ dữ kiện nghiên cứu 30 năm liên tiếp về thái độ của giới tiêu thụ do Viện Đại Học Michigan thực hiện. Thái độ của người tiêu thụ được nghiên cứu vào lúc trước, trong khi và cả sau khi đã xảy ra cuộc suy thoái kinh tế gần đây nhất để xem thái độ của người ta thay đổi ra sao trong vấn đề mua và bán nhà. Những nét chính được nêu ra trong cuộc nghiên cứu nói trên cho thấy:

1. Mặc dù có tình trạng thất nghiệp cao, kinh tế tăng trưởng chậm chạp và những khó khăn khác làm cho nền kinh tế khốn đốn, có gần 80% các gia đình ở nước Mỹ tin rằng bây giờ là thời điểm vô cùng thuận lợi để mua một căn nhà.

2. Cái khác nhau giữa cuộc suy thoái kinh tế mới đây và những lần trước là tâm lý của người bán nhà rất là thấp. Thấp nhất kể từ khi có cuộc nghiên cứu được thống kê nói trên. Nói một cách tổng quát, thị trường nhà cửa bị đè nặng bởi thái độ tiêu cực của những người có nhu cầu bán nhà.

3. Tâm lý tiêu cực của người bán nhà liên quan trực tiếp chặt chẽ với sự khó khăn tìm được các người mua nhà với cái giá mà người bán có ý định bán. Trong khi đó thì thị trường cũng còn đang đầy ngập những căn nhà bị ngân hàng xiết nợ, bán lại với giá nới hơn, hoặc cũng còn phải kể có rất nhiều chủ nhà không trả nổi số tiền nợ hàng tháng trên căn nhà, vì lý do này hay lý do khác.

4. Hai thập niên trước, người ta thấy tâm lý của người bán nhà mạnh mẽ hơn tâm lý của người mua nhà, khác hẳn bây giờ.

5. Theo cuộc nghiên cứu kể trên, 5 tam cá nguyệt đằng trước mặt, tâm lý người mua được dự đoán là cũng sẽ vẫn khá cao như thời gian hiện nay. Trái lại, tâm lý của người bán nhà cũng sẽ rất thấp như hiện tại. Điều này cho thấy thị trường địa ốc cũng sẽ còn ỳ ạch ở những tháng trước mặt. “Dù tình trạng thất nghiệp vẫn còn cao và nền kinh tế tăng trưởng chậm, phần đông người Mỹ tin rằng đây là lúc thuận lợi để mua nhà”.

Giáo sư Engelhardt nhận xét. “Tâm lý tích cực về mua nhà xuất hiện ở nhóm những người trẻ tuổi và có giáo dục cao”. Theo ông, giá nhà đang còn thật hấp dẫn và lãi suất thì vẫn nằm gần với mức thấp kỷ lục suốt nhiều thập niên qua là các yếu tố mà giới tiêu thụ không muốn bỏ lỡ. Thật ra, đối chiếu tâm lý người mua nhà hiện nay với những chu kỳ suy thoái kinh tế trước cũng thấy chẳng khác gì nhau. Tâm lý người mua xuống thấp theo với mức thất nghiệp gia tăng. Thị trường nhà cửa cải thiện khi tình trạng công việc làm cải thiện và giá nhà trên thị trường vẫn còn nhẹ nhàng. “Những gì khác biệt với những kỳ suy thoái trước là sự suy sụp trong tâm lý của người bán nhà. Từ năm 1992 đến 2005, tâm lý tích cực của người bán nhà lên xuống trong khoảng từ 40% đến 60%. Nhưng từ năm 2005 trở lại đây, tâm lý người bán tuột dốc thẳng đứng nhanh chóng nên đến nay chỉ còn có 7% dù tâm lý người mua vẫn rất cao”, theo lời ông Engelhardt. Theo ghi nhận của ông, đứng về mặt kinh tế, khi trị giá nhà trên thị trường tụt xuống, người có nhu cầu bán nhà đã không điều chỉnh giá bán căn nhà của mình theo với tình hình thị trường, tức là vẫn đòi bán giá cao hơn trong khi người mua thì nghĩ rằng họ phải được mua với giá thấp hơn. Một người đứng ở trên cao trong khi người kia ở dưới thấp chứ hai bên không cùng đứng trên một mặt bằng với nhau, thị trường không êm xuôi tốt đẹp là vì vậy. Có một số lý do để giải thích. Trước hết, người bán nhà vẫn còn nghĩ trong đầu là căn nhà của mình phải bán với cái giá hồi trước mới phải, mới đúng với giá trị thật của nó. Những căn nhà lối xóm mấy năm trước đã bán được với giá như vậy, tại sao mình lại bán thua người ta. Thứ hai, những người có trị giá nhà thấp hơn số tiền chủ nhà đang nợ ngân hàng, không thể bán nhà bên dưới nữa vì chẳng lẽ bù thêm tiền để trả nợ. Thứ ba, vì trị giá nhà giảm khá nhiều, một số không nhỏ chủ nhà giữ nhà không bán nữa mà chờ cho tới khi nào thị trường phục hồi mới tính đem nhà ra bán hay không. “Tôi dự trù tâm lý người mua sẽ vẫn rất cao trong khi tâm lý người bán nhà sẽ vẫn rất thấp trong thời gian ít tháng trước mặt”. Engelhardt tiên đoán. Mike Fratantoni, phó chủ tịch về khảo cứu của MBA cũng cho rằng thị trường nhà cửa đã kẹt suốt ba năm qua. Trị giá nhà giảm xuống khá mạnh, nhịp độ xây nhà mới cũng rất thấp nhất từ 50 năm qua và số lượng nhà bán được của thị trường nhà do chủ bán lại cũng 20% ít hơn của giai đoạn trước khi xảy ra khủng hoảng. Cuộc nghiên cứu nói trên công nhận những người trẻ tuổi tin tưởng vào những điều tốt đẹp của việc làm chủ một ngôi nhà là điều đáng khích lệ. Nhưng nếu các người có nhu cầu bán nhà lại không chịu bán với giá thấp hơn theo tình thế thị trường, thì thị trường vẫn khó lòng nhúc nhích theo hướng tốt hơn.-Nguồn Viễn Đông

Published in Địa Ốc
Monday, 06 February 2012 17:00

Cà Phê Sàigòn Ngày Xưa

Hồi xửa hồi xưa . . . có một Sàigòn người ta gọi cà phê là “cà phe”, đi uống cà phê là đi uống “cà phe” với giọng điệu rất là ngộ nghĩnh. .Tiếng Tây gọi cà phê là Café, tiếng Anh là Coffee nhưng mấy xì thẩu Chợ Lớn thì gọi là “cá phé”. Vậy thì café, coffee, cà phê, cà phe hay là cá phé muốn gọi sao thì gọi nhưng ai cũng hiểu đó là món thức uống màu đen có hương vị thơm ngon, uống vào có thể tỉnh người nếu uống quá đậm có thể thức ba ngày không nhắm mắt. . . . TRỞ VỀ THẬP KỶ 50: CÀ PHÊ VỚ Năm một ngà n chín trăm . . hồi đó người Sàigòn chưa ai biết kinh doanh với nghề bán cà phê cả. “Xếp sòng” của ngành kinh doanh. . .có khói này là do các xếnh xáng A Hoành. A Coón. chú Xường, chú Cảo. . .chủ các tiệm hủ tíu, bánh bao, há cảo, xíu mại. Vô bất cứ tiệm hủ tíu nào vào buổi sáng cũng có bán món cá phé, cà phê, cà phe đi kèm để khách có thể ngồi đó hàng giờ nhăm nhi bàn chuyện trên trời dưới đất. Hồi đó chẳng ai biết món cà phê phin là gì đâu? Các chú Xường, chú Cảo, A Xứng, A Hía chỉ pha độc một loại cà phê vớ. Một chiếc túi vải hình phểu được may cặp với một cọng kẻm làm vành túi và cán. Cà phê bột đổ vào túi vải (gọi là bít tất, hay vớ đều được). Vì chiếc dợt cà phê nầy hơi giống như chiếc vớ dùng để mang giày nên “dân chơi” gọi đại là cà phê vớ cho vui. Chiếc vớ chứa cà phê này sau đó được nhúng vào siêu nước đang sôi, lấy đũa khuấy khuấy vài dạo xong đậy nắp siêu lại rồi . . .”kho” độ năm mười phút mới có thể rót ra ly mang ra cho khách. Chính cái “quy trình” pha chế thủ công đầy phong cách Tàu này mà dân ghiền cà phê còn gọi nó là cà phê kho bởi chỉ ngon lúc mới vừa “kho nước đầu”. Nếu ai đến chậm bị kho một hồi cà phê sẽ đắng như thuốc Bắc. Có mấy khu vực có những con đường qui tụ rất nhiều tiệm cà phê hù tíu. Ở Chợ Cũ có đường MacMahon (đọc là đường Mạc Má Hồng, nay là đường Nguyễn Công Trứ) có rất nhiều tiệm cà phê kho từ sáng đến khuya. Khu Verdun – Chợ Đuổi (nay là Cách Mạng Tháng 8) cũng đáng nể bởi cà phê cà pháo huyên náo suốt ngày. Ở bùng binh Ngã Bảy (góc Điện Biên Phủ và Lê Hồng Phong bây giờ) có một tiệm cà phê hủ tíu đỏ lửa từ 4 giờ sáng cho đến tận 12 giờ đêm.. Còn nếu ai đi lạc vào khu Chợ lớn còn “đã” hơn nhiều bởi giữa khuya vẫn còn có thể ngồi nhăm nhi cà phê, bánh bao, bánh tiêu, dò-chả-quải đến tận sáng hôm sau. . TRANG TRÍ CHUNG CỦA CÁC TIỆM CÀ PHÊ HỦ TÍU TÀU Sách phong thủy Tàu thường khuyên không nên cất nhà ở ngã ba, ngã tư đường vì dễ bị nạn xui xẻo nhưng các chú Xường, chú Hía. A Hoành. A Koón . . . thì đều chọn các nơi này làm chỗ kinh doanh. Tuy Sàigòn, Chợ lớn, Gia Định. Phú Nhuận, Đa Kao hàng trăm tiệm cà phê hủ tíu Tàu nhưng nhìn chung chúng đều có một “mô-típ -made in China” khá giống nhau tức là quán nào ở phía trước cửa cũng có một xe nấu hủ tíu được làm bằng gỗ thiết kế một cách cầu kỳ. Phần trên của xe được trang trí bằng những tấm kính tráng thủy vẽ những nhân vật Quan Công, Lưu Bị, Triệu Tử Long, Trương Phi trong truyện Tam Quốc Chí khá vui mắt. Bên trong quán hoặc xếp bàn tròn hoặc vuông. Khách vừa vào trong gọi “cá phé”, song mấy tay phổ ky vẫn bưng ra một mâm nào bánh bao, xíu mại, há cảo, dà chá quải đặt trên bàn. Khách dùng hay không cũng chẳng sao “pà – con – mà!” UỐNG CÀ PHÊ PHẢI BIẾT CÁCH Như đã nói ớ trên, hồi đó không có cà phê ta mà chỉ có cà phê Tàu . Vì thế uống cà phê Tàu phải có một phong cách riêng. Cà phê được mang ra dân “sành điệu”, hồi đó ngồi chân dưới chân trên, sau khi khuấy nhẹ cho tan đường bèn đổ ly cà phê ra cái đĩa đặt phía dưới. Chưa uống vội, khách chậm rãi mồi điếu thuốc rít vài hơi để chờ cà phê nguội. Ông Sáu “trường đua” nay đã 80 kể rằng hồi ông còn là một chú nhóc nài ngựa ở trường đua Phú Thọ ông cũng uống cà phê theo phong cách này, tức uống bằng đĩa chớ không uống bằng ly. Bàn tay phải nhón lấy cái đĩa đưa lên miệng và húp sì sụp: “Uống vậy mới khoái, mới đúng kiểu của dân từng trải “, ông Sáu “trường đua” nói với vẻ tự hào. Ông còn kể cho tôi nghe chuyện ông từng ăn mảnh ở mấy tiệm hủ tíu bánh bao hồi năm sáu chục năm về trước với giọng khoái trá: “Hồi đó tao làm nài ngựa. Hôm nào ngựa thắng độ thì nài được chủ ngựa thưởng cho bộn tiền. Hôm nào ngựa thua thì coi như đói. Không sao, 73 gần trường đua có một tiệm hủ tíu cà phê. Vào búng tay chóc chóc gọi cà phê. Cứ cho mấy thằng phổ-ky mang bánh bao xíu mại ra bày trên bàn. Đợi đến khi nó mang cà phê ra rồi bỏ chạy sang bàn khác thì nhanh tay gở miếng giấy phía dưới cái bánh bao ra và khoắng ngay cái nhân phía trong tọng vào miệng rồi đậy bánh lại như cũ. Thế là chỉ tốn ly cà phê vài xu mà đã có cái nhân bánh bao to đùng ngon lành trong bụng rồi”. Theo ông Sáu “trường đua” thì các chủ tiệm cà phê hủ tíu hồi đó rất chìu khách. Sì sụp húp cà phê bằng đĩa xong muốn ngồi bao lâu cứ ngồi, hết trà con hô lên “xà lẵm” là có người mang ra bình trà mới, uống chừng nào chán thì đi. Khi được hỏi tại sao dân “sành điệu lại không uống bằng ly mà đi húp cà phê bằng đĩa, ông Sáu “trường đua” lắc đầu nói không biết chỉ biết dân “sành điệư” chơi vậy mình cũng bắt chước chơi vậy thôi vậy mới là. . . sành điệu! CÀ PHÊ PHIN HAY CÀ PHÊ “NỒI TRÊN CỐC” Dòng cà phê . . . với cà phê kho lững lờ trôi như thế hằng thế kỷ của thiên kỷ trước là như thế, cứ vào tiệm hủ tíu mà uống cà phê đổ ra đĩa rồi sì sụp húp thì được xem như đó là phong cách của dân chơi sành điệu. Một người tên ông Chín “cù lủ” một tay bạc bịp nay đã hoàn lương cho rằng dân cờ bạc, dân giang hồ hồi đó chẳng đời nào bưng ly mà uống như ngày nay. Kẻ ngồi nghiêm túc, nâng ly lên uống như uống rượu bị các đàn anh “húp” đĩa xem khinh bằng nửa con mắt, coi như hạng. . . “bột” lục hục thường tình không đáng kết giao. Nhưng rồi cái quan điểm húp cà phê trên đĩa mới . . . “sang” cũng đến lúc phải lụi tàn, vì bị chê là kiểu uống bẩn, uống thô vụng khi trào lưu cái phin “filtre” bắt đầu xuất hiện và đã làm biến dạng cái kiểu uống cà phê trong tiệm hủ tíu. Vào thập niên 60 Nhà hàng Kim Sơn (nằm trên góc Lê Lợi-Nguyễn Trung Trực) mở cú đột phá ngoạn mục bằng cách bày bàn ghế ra hàng hiên dành cho các văn nghệ sĩ trẻ chiều chiều ra đó bàn chuyện.văn chương và. . . rửa con mắt. Hồi đó cà phê Kim Sơn chỉ có một đồng một cốc bằng giá vé xe buýt dành cho học sinh. Mặc dù chủ quán Kim Sơn lúc đó vẫn là người Hoa nhưng đã tiếp thu phong cách cà phê hè phố của dân Paris (Pháp). Theo lý thuyết, những giờ uống cà phê là những giờ thư giản hoàn toàn vừa nhăm nhi từng ngụm nhỏ cà phê đặc sánh vừa ngắm quang cảnh sôi động đông vui của đường phố. Thuở ấy con đường Lê Lợi vẫn còn những hàng me. Vào những ngày me thay lá, dưới ánh nắng chiều phớt nhẹ, lá me vàng khô rơi tản mạn như hoa “com-phét-ti” lấp lánh làm cho đường phố trở nên. . . “mộng mị” và thơ. . . Kim Sơn biết tận dụng ưu thế chiếm lĩnh một góc ngã tư, tầm nhìn rộng bao quát để khai thác dịch vụ cà phê hè phố. Cái phin đã trở nên quen thuộc, cao cấp hơn cái vợt cái vớ của cà phê kho trên cái siêu đất “phản cảm” xưa. Thời điểm này những nhà văn, nhà báo. các nhà doanh nghiệp tên tuổi cũng có những quán cà phê sang trọng xứng tầm với địa vị của họ. Những La Pagode, Brodard, Givral, Continental là nơi gặp gỡ giao lưu cửa giới thượng lưu Sàigòn. CÀ PHÊ TÂY Cà phê La Pagode khách không ngồi ghế sắt ghê gỗ mà ngồi trên những salon bọc da để phóng tầm mắt nhìn ra con đường Catinat (nay là Đồng khởi) con đường đẹp và sang nhất của Sàigòn. Cách La Pagode độ trăm mét Nhà hàng Continental cùng mở một không gian cà phê sang trọng . đúng phong cách “Phăng-se”. Đối diện Continental là tiệm cà phê Givral nơi nổi tiếng với những món bánh ngọt tuyệt hảo. Tiệm tràn ngập ánh sáng bởi những khung cửa kính nhìn ra Nhà Hát Lớn (nay là Nhà Hát TP) với một bầu trời khoáng đãng. Những nhà báo, văn nghệ sĩ thường ghé đây uống cà phê trước khi tỏa đi khắp nơi cho công việc riêng của họ. Còn một quán cà phê với một phong cách phương Tây như bàn ghế trang trí nội thất sang trọng cũng nằm trên con đường này là quán cà phê Brodard. Với một phong cách cũng gần giống với La Pagode, không gian Brodard yên tĩnh, ánh sáng thật nhạt để khách có thế thả hồn êm ả bên tách cà phê nóng hổi quyện hương thơm. Có thể nói từ giai đoạn này người Việt Nam ở Sàigòn “thức tĩnh” trước thị trường buôn bán cà phê mà từ lâu họ đã bỏ bê và đã để cho các chú Hoành, chú Koón, chú Xường. . . tự do khai thác. Khi qua tay người Việt quán cà phê không còn luộm thuộm những cái “đuôi” mì, hủ tíu, hoành thánh, xíu mại, há cảo, bánh bao . . . nữa mà nó thuần túy chi có cà phê nhưng được chăm chút một cách tỉ mỉ hơn, biết tạo ra một không gian tao nhã hơn, thu hút hơn . . . CAFÉTÉRIA CA NHẠC Để gần gũi hơn, thu hút khách hơn và cũng mang tính giải trí hơn, một số nơi đã ổ chức hình thức phòng trà ca nhạc theo dạng Cafétéria. Cafétéria rộng thoáng hơn những “Tháp ngà” La Pagode, Brodard, Givral, Continental. . . nơi đây không phải chỗ để trầm tư, bàn luận chuyện đời mà hoàn toàn là chỗ vui chơi giải trí. Trên đường Bùi Viện đầu những năm 60 mọc ra một cái quán với tên là Phòng trà Anh Vũ. Tuy là phòng trà nhưng có thiết kế một sân khấu nhỏ vừa cho một ban nhạc bỏ túi đệm đàn cho những ca sĩ tiếng tăm được mời đến trình diễn như Bạch Yến, Mai Hương, Duy Trác, Cao Thái . . Lúc đó phòng trà Anh Vũ là điểm hẹn của nhiều người dân Sàigòn cũng như những văn nghệ sĩ sinh sống tại đây. Con đường chật hẹp Bùi Viện bỗng đêm đêm sáng lên rực rỡ ánh đèn Anh Vũ, người xe tấp nập đông vui. Một Cafétéria khác theo cách của Anh Vũ cũng đã mọc lên bên cạnh rạp Ciné Việt Long (trên đường Cao Thắng) với tên Phòng trà Đức Quỳnh. Ca sĩ kiêm nhạc sĩ tóc dài Đức Quỳnh là chủ nhân của cái Cafétéria này. Đức Quỳnh với cây Piano và giọng ca trầm ấm của ông và những ca sĩ Minh Hiếu – Thanh Thúy, Phương Dung đã thu hút một số đông người yêu nhạc đêm đêm đến đây vừa giải khát vừa giải trí một cách tao nhã. Rồi tiếp theo là Cafétéria Jo Marcel, trên đường Hai Bà Trưng, Đêm Màu Hồng trên đường Tự Do (nay là đường Đồng Khởi) thi nhau mọc lên đầy “Nền văn hóa ẩm thực” cà phê lên một tầm cao hơn, tức vừa uống cà phê vừa được thưởng thức những ca khúc do các ca sĩ, nhạc sĩ có tiếng trình bày. Một Phòng trà ca nhạc khác cũng khó quên chính là phòng trà Bồng Lai nằm trên sân thượng của Nhà hàng Kim Sơn mở cửa hàng đêm từ 9 giờ tối. Ở đây khách thường xuyên được nghe giọng ca vàng đương thời, ấy là ca sĩ Anh Tuyết với bài hát “Ánh đèn màu”. Cũng như ca sĩ Cao Thái nổi tiếng với bài “Mexico” , ca sĩ Ánh Tuyết mỗi lần trình diễn “Ánh đèn màu” là bà hát với những dòng nước mắt. Nội dung ca khúc là nói về tâm trạng của người nghệ sĩ là ca hát để người.mua vui để rồi khi ánh đèn màu tắt người nghệ sĩ lại một mình giữa cô đơn. . . Có lẽ do cái nội dung u buồn ấy đụng chạm vào nỗi lòng của bà nên bà rất ít khi chịu hát nhạc phẩm ấy. Nhưng hầu như đêm nào cũng có người yêu cầu, trừ những người thân quen bắt buộc phải đáp ứng còn thì Ánh Tuyết xin lỗi từ chối khéo. LẠI QUAY VỀ CÀ PHÊ VỚ ĐÔNG VUI Những quán cốc che tạm tấm bạt bên lề đường với những chiếc ghế gỗ lùn làm chỗ tụ họp của các thanh niên vui đón những ngày hạnh phúc mới. Vòng quanh Hồ con Rùa, xuống đến Phạm Ngọc Thạch, quẹo qua Nguyễn Đình Chiểu có hàng mấy chục “túp lều” cà phê như thế mọc lên san sát bên nhau. Chỉ có ai ở tuổi thanh niên vào thời điểm lịch sử có một không hai đó mới thấy được cái thú ngồi quán cà phê bụi lụp xụp mà hầu như đường nào cũng có. Có người còn có thuốc Ruby, Con Mèo để phì phà bên ly cà phê vớ nhưng để phiêu bồng hơn một số lớn thanh niên chơi . . . “bốc – lăn – se” tức thuốc vấn. Anh nào cũng thu sẵn một bọc trong túi xách để sẵn sàng bày ra cho bạn bè tha hồ vừa bốc vừa lăn vừa se vừa liếm vừa dán rồi phì phèo nhả khói. Cà phê quán cóc (nhảy nay chỗ nay mai chỗ khác như cóc nhảy ấy mà) thời ấy được coi như thời huy hoàng lãng mạn nhất của nền . . . văn hóa ẩm thực cà phê cóc Sàigòn. Ban ngày đã rộn ràng như thế đến đêm bên những ngọn đèn dầu lù mù loanh quanh những con đường trong thành phố cũng có những quán cóc để dân mê cà phê, mê hòa bình được tận hưởng những giờ phút, sảng khoái, thanh bình, yên ả nhất của đời mình. VÀ CÀ PHÊ ĐƯƠNG ĐẠI Bây giờ là thời kinh tế thị trường, nghề kinh doanh cà phê không còn ở giai đoạn cà phê Tàu ngồi chân trên chân dưới mà húp cà phê vớ trong chiếc đĩa sứ cũ kỷ hay kiểu cà phê lề đường tuy vui nhưng vi phạm luật giao thông lấn chiếm lòng lề đường. Kinh doanh cà phê bây giờ phải có vốn hàng tỷ bạc. Vì nó không còn ở dạng Cafétéria nữa mà nó là Bar café, bề thế hơn, sang trọng hơn. Cơ ngơi kinh doanh mỗi nơi mỗi thể hiện một phong cách riêng để lưu giữ một số khách hàng riêng. . Chỉ cần đến Bar café Gió Bắc, Ciao café, Window’s café, Sửa café ở vòng quanh hồ Con Rùa thôi đủ thấy người kinh doanh phải bỏ ra một số tiền lớn cỡ nào để kinh doanh dịch vụ buôn bán món hàng đơn giản từ những hạt cà phê đen tuyền thơm ngát đó. Ngoài việc uống cà phê khách còn có thể nhăm nhi một ly Cocktail thấm mát đầu lưỡi hay một cốc rượu nhỏ Martell, Hennessy nồng nàn vào những buổi chiều. Cà phê Sàigòn cua "Thành Hồ" bây giờ sang hơn, thời thượng hơn dành cho một thành phần của cư dân có thu nhập cao hơn . Và bạn có bao giờ thử một buổi chiều đi vào một Bar café chưa? Đó sẽ là một không gian mát rượi chờ đón bạn. Gọi cà phê hay một cốc rượu nhỏ ngồi đó nghe tiếng nhạc nho nhỏ và bạn cũng chẳng cần nhìn ra khung cảnh bên ngoài làm chi. Ở đây có biết bao “cánh hoa” đẹp: các cô phục vụ bàn, các em PR và những người đẹp từ bốn phương trời “đáp nhẹ” về đây. Cà phê và rượu sẽ còn phê hơn khi bạn sẽ mãn nhãn với những đôi chân dài chập chờn trong thứ ánh đèn mờ ảo như ru bạn vào những giấc mơ đến dại khờ. . . Giá cà phê ở những nơi này tất nhiên là hơi đắc không biết vì tại chỗ ngồi sang, vì cà phê sản xuất từ trên Sao Hỏa hay tại các chiếc áo lửng hai dây và những cái chân dài . . . SÀIGÒN DĨ VÃNG VÀ SÀIGÒN BOLSA Sàigòn một thuở là Hòn ngọc Viễn Đông, một Paris lấp lánh khắp cõi Châu Á, tới hôm nay, lại mang một cái tên khác lạ, chẳng đẹp đẽ chi, nếu không muốn nói là vô nghĩa. Bởi thế nên người ta vẫn gọi tên cũ chính danh là Sàigòn. Một thành phố mãi mãi vẫn mang tên là Sàigòn. Sàigòn của muôn đời. Sàigòn trong trái tim người đang sống ở thành phố đó hay lưu lạc khắp năm châu thế giới.. Người Sàigòn không nhất thiết phải sinh ra tại đó, có bao nhiêu đời Ông Bà Cha Mẹ từng lập nghiệp lâu năm bền vững. Một người, bất cứ ai, cũng có thể nhận chính mình là dân Sàigòn, dù chỉ ở đây một ngày, một tuần hay một tháng, một năm. Chỉ sống một ngày ở Sàigòn, nhưng yêu Sàigòn mãi mãi, và mang Sàigòn ở trong tim, như một phần của thân xác, linh hồn mình. Chỉ như vậy thôi, người ta có thể ngẩng cao đầu, tự hào vỗ ngực tuyên xưng, tôi chính là dân Sà gòn. Tóm lại, Sàigòn là của tất cả mọi người suốt giải giang sơn, từ Bắc qua Trung tới Nam. Sàigòn như một hiền mẫu, dang vòng tay ôm thương yêu quảng đại tới con người tứ xứ, không phân biệt Bắc, Trung, Nam và ngay cả người ngoại quốc nữa. Một người Pháp sinh ra ở Paris, bỗng dưng một hôm tuyên bố, từ nay tôi không còn là một Parisien, cư dân ở Paris nữa. Tôi là người Sàigòn và sẽ ở lại đây cho tới cuối đời. Thế là dân Sàigòn bèn gọi chàng Tây là anh Hai, hoặc anh Tư gì đó. Tinh thần người Sàigòn là như vậy đó, thiệt là cởi mở và phóng khoáng. Một nhạc sỹ sáng tác nhạc gửi: “Sàigòn ơi! Ta hứa rằng ta sẽ trở về” . Rồi chàng cũng đã trở về thật, sau hơn chục năm xa cách. Nhưng chàng khám phá ra mình thực sự mất Sàigòn trong thực tại. Thế nên, nếu có sự trở lại, thì chỉ còn một hành hương về Sàigòn trong quá khứ với ngọc ngà dĩ vãng.. Hãy cùng trở về Sàigòn từ một ký ức xa tắp mù khơi. Sàigòn của những thập niên 1950 từ hơn nửa thế kỷ trước. Sàigòn với các hộp đêm, sòng bài Đại Thế Giới, Chợ Lớn, một Las Vegas thu nhỏ. Tại đây có đủ loại sòng bài và cách chơi khác nhau, lại có chỗ giải trí như xe nhỏ chạy bằng điện húc nhau đùa rỡn, hiện nay Las Vegas vẫn còn trò chơi này. Khu văn nghệ khác như phòng trà vũ trường. Con đường Trần Hưng Đạo Galliéni, Đồng Khánh chạy dài từ Sàigòn tới Chợ Lớn dài vun vút dẫn khách tới sòng bài, lưu thông hàng ngàn chiếc xe hơi nối đuôi nhau, đèn pha sáng chói, chẳng khác gì đại lộ Champs Elyseé tại Paris. Đường Richaud Phan Đình Phùng quả thật văn nghệ với quán cà phê Gió Nam nỗi tiếng vì cô hàng café tuyệt sắc giai nhân. Nàng có nước da trắng xanh liêu trai với mái tóc thề ngây thơ nữ sinh. Nhân vật đã đi vào truyện Duyên Anh, qua bao chàng trai say đắm, tranh đua nàng, từ trí thức đến du đãng yên hùng. Cũng tại đường Phan Đình Phùng với quán phở Con Gà sống thiến cùng hai kiều nữ con chủ quán, nổi danh tài sắc. Yến Vỹ cùng chị, cả hai để mái tóc bồng rối như minh tinh Brigitte Bardot. Bao thực khách đến chẳng phải phở ngon, nhưng vì Yến Vỹ đẹp lại hát hay. Thì ra ngoài quán café, nhà hàng phở giai nhân cũng khiến một chàng Cử Văn Khoa phải vào nhà thương điên vì tình si. Phan Đình Phùng còn thêm café quán Luật Khoa và cơm gà Xing Xing, với những giai nhân lai Pháp, càng làm thêm Sàigòn có một chút Paris. Sàigòn by night đã là những phòng trà ca nhạc và vũ trường khiến màn đêm Thành Đô trở nên lung linh ảo huyền, như một ngàn lẻ đêm huyền thoại. Nổi bật nhất từ cuối thập niên 50 là phòng trà ca nhạc Anh Vũ. Nơi đây khởi đi cho nhiều danh ca sau này. Thanh Thúy ở tuổi mượt mà thanh xuân đôi tám đã hát từ Anh Vũ, làm mê say bao tao nhân mặc khách. Người ta mê Thanh Thúy vì có lối trình diễn độc đáo bên giọng ca trầm buồn. Thanh Thúy vừa hát vừa đưa tay vuốt làn tóc buông rơi, sau đó gây chú ý là tự vuốt đôi chân ngọc tuổi dậy thì, có lúc nàng lại vưốt cây micro nữa, khiến các chàng trai sởn da gà vì sốt nóng lạnh. Ban CBC thuở Anh Vũ đã là ban nhạc kích động nhỏ nhất thế giới, với tuổi khoảng sáu, bảy mà thôi. Thảm kịch cũng xảy ra cho phòng trà Kim Điệp Sàigòn, khi một chàng Tây lai bị giết. vì dám cặp kè với người đẹp Tuyết Không Quân. Tuyết là một giai nhân nổi tiếng sát phu qua hai đời chồng bị tử nạn trong chiến tranh. Phòng trà Kim Điệp sau vụ ấu đả vì ghen tuông. bị đóng cửa để trở thành Nhà sách. Quán café trà thất đẹp nhất Sàigòn phải kể là Quán Gió, sau thành “Hầm Gió”, thiết trí sâu dưới đất, như một hầm rượu bên Âu châu. Người đẹp ngồi cash, bên một thùng rượu làm thành cái bàn khá ngoạn mục. Ca sỹ Thanh Lan thường có buổi trình diễn tại đây Chính những phòng trà đêm Sàigòn đã đưa nhạc phản chiến của Trịnh Công Sơn lên đỉnh cao. Nhiều ca khúc phản chiến cấm hát ở Đài phát thanh nhưng tại phòng trà thì vẫn được trình diễn tự do. Vũ trường, phòng trà Sàigòn còn ghi lại một thiên tình sử đẫm lệ, khi nữ ca sỹ Diệu Anh kiều diễm hát hay, đã tự tử vì . . . bị một nam ca sỹ bỏ rơi. Chàng trai bạc tình sau đó vì buồn và hối hận đã bỏ hát vài năm. Đêm Sàigòn trà thất vũ trường còn ghi đậm cây si thường xuyên Mai Thảo và Hồng Dương, để viết thêm những tình sử lâm ly với hai nữ danh ca khác. Đêm Sàigòn bạc vàng, bạc triệu với Lệ Thu và Khánh Ly, những tiếng hát vàng ròng cả nghĩa trắng lẫn nghĩa đen, vì lương tháng hai nữ danh ca này lên tới một triệu. Trong khi đó, lương một Đốc sự, Phó Quận trưởng tới năm 1975 chỉ có 33 ngàn đồng một tháng. Vũ trường thơ mộng nhất Sàigòn là Mỹ Phụng ngay tại bến Bạch Đằng. Thuở đó cuối thập niên 50 đầu 60, người ta thích đi Mỹ Phụng vì ban đêm có gió sông Sàigòn mát dịu lại thêm nữ danh ca Lệ Thanh. Nàng chuyên hát những tinh khúc ướt át, trong điệu slow tắt đèn, mờ ảo như “Dang dở ” “Nỗi Lòng”. Tiếng hát mê đắm Lệ Thanh đã thu hồn một Bác Sỹ trở thành phu quân của nàng. Đêm Sàigòn ngọc ngà dĩ vãng khiến người ta khó quên được vì những dạ vũ Bal Famille có khi kéo dài từ đêm suốt sáng. Ai có ngờ cô bé Mai đen 16 tuổi, thường đi với bé Phú, sau này lại trở thành ca sỹ Khánh Ly nổi danh cho tới nay. Phú mệnh danh là Phú chuột, trắng trẻo, mũm mĩm xinh như thỏ con, thường nhảy cùng Mai với đám bạn trai. Mai nhảy có khi bỏ cả giày cao gót giữa đêm vui đã gần rạng sáng. Thuở ấy, người đi dạ vũ phải trầm trồ khen ngợi tài nhảy của Tony Khánh, thường nhảy cặp với vợ. Mỗi lần Khánh cùng phu nhân ra sàn nhảy, mọi người đều ngừng khiêu vũ để thưởng thức tài nghệ bậc sư biểu diễn. Sau đó là pháo tay nổ ròn như ngày Tết. Hòn ngọc Viễn Đông Sàigòn từ thập niên 50 nay đã trên nửa thế kỷ, Sàigòn đổi tên và Sàigòn ngọc nát châu chìm. Những cột đèn tuy không biết đi, nhưng đã chắp cánh bay xa, thành bao nhiêu Little Sàigòn rải rác khắp hải ngoại . Và dân Sàigòn năm xưa, những chàng trai hào hoa phong nhã, bao giai nhân ca sỹ lừng danh, nay đã thất thập cổ lai hy, hay gần mấp mé tuổi hạc. Thế nhưng trái tim chằng bao giờ già. Bởi vậy nói như Thi sỹ Thanh Tâm Tuyền ta gọi tên ta, Sàigòn cho đỡ nhớ. Hỡi những Đêm Mầu Hồng, Queen Bee, Arc En Ciel, Mỹ Phụng, Tự Do . . . Những đêm vui thắp sáng kỷ niệm, những ngày xuân mãi mãi xanh tươi, để làm thành một Thủ Đô Sàigòn bất tử, ta yêu lắm và yêu mãi mãi. Sàigòn trong lời nhạc của Ngô Thụy Miên, thì dù Em của ta có đi khắp thế giới Paris, Vienne, cũng chẳng thể tìm đâu đẹp hơn Sàigòn của ta ngày hôm qua dĩ vãng cũng như Sàigòn mai sau, khi hết Cộng sản. Bây giờ tuy chưa có Sàigòn mai sau, nhưng ta tạm có Little Sài gon Bolsa tại Nam Cali, Thủ đô ty nạn của người Việt hải ngoại – chỉ tại Little Sàigòn mới giống Sàigòn năm xưa được . Sàigòn Bolsa mùa xuân pháo nổ tưng bừng qua phố phường Westminster, Bolsa, Brookhurst, Euclid. . . trong khi ấy nay Sàigòn ở Việt Nam làm sao có pháo ? Thế nên người có tiền ở Sàigòn bây giờ, Tết đến lại thích đi du lịch sang Mỹ để đón xuân thực sự như Sàigòn thuở xưa, và tìm lại Sàigòn đích thực. Sàigòn đã ra đi và Sàigòn tung cánh chim viễn xứ, quy tụ quây quần tại Mỹ, Canada, Úc, Pháp. Đức v v . Ba triệu người Việt lưu vong là ba triệu trái tim nồng nàn vẫn yêu thương Việt Nam và thắp sáng mãi Sàigòn Hòn Ngọc Viễn Đông nay thắp sáng ở xứ người. Sàigòn đã ra đi và tương lai sẽ có lúc, Sàigòn trở lại, như một Châu Về Hiệp phố. Sàigòn khi ấy sẽ rực sáng tin yêu của Tự Do, Dân Chủ và Phú Cường.[TT]
Monday, 06 February 2012 16:59

Tản Mạn Chó

1. Được Khi người ta mang Dona đến cho tôi trong cái giỏ, nó nằm ngoan ngoãn. Tôi chỉ kịp nhìn sơ qua bộ lông dài, mầu nâu sáng của Dona rồi quay sang tiếp chuyện chủ con chó, cũng là chỗ quen biết. Bà này bảo Dona là chó đực, giống Bắc Kinh lai, rất dễ nuôi. ‘Nhà trống trải, đêm hôm có con chó. Có tiếng sủa, bọn trộm không dám nhung nhăng, mày cũng vui nhà vui cửa’ đó là lý do khiến chủ chó ‘rứt ruột’ đem bảo bối mới hai tháng tuổi tặng tôi. Mặc dù không thích, cũng không cần chó nhưng trước ‘sự đã rồi’ tôi vẫn phải lịch sự cám ơn. Tiễn chủ chó xong, quay lại thấy Dona đã chui ra khỏi giỏ, chạy lăng quăng, hít ngửi mọi chỗ. Nhấc nó lên quan sát, tôi bàng hoàng nhận ra Dona mù một mắt. Chỗ mắt hỏng hai mí khép hờ, không chảy máu chảy mủ hay sưng đỏ. Bà chủ chó, té ra chẳng tốt lành gì, đơn giản chỉ muốn bỏ một con chó vô dụng, xấu xí. Dona bị bà ta vứt, còn tôi bị bà ta lừa. Cả hai cùng ‘bị’. Con chó chột nghếch mặt lên. Con mắt còn lại mầu nâu, tròn to, trong sáng. Bé tí đã mất một mắt, chắc đau lắm! Thế là chỉ một thoáng trắc ẩn, một cái chép miệng, tôi đã lãnh vào mình một phần số bọt bèo và một lô một lốc những mệt nhọc, phiền phức, trói buộc sau đó. Thằng con bà chủ chó kể: ‘Nó mới biết đi, mò ra sân, chỗ nào cũng hiếng mắt ngửi ngửi hít hít. Ai dè mò tới bên lồng nhốt gà chọi. Con gà thò đầu ra gắp luôn con ngươi bên phải, gọn hơ…’ Tôi bảo thằng nhỏ dừng kể. Thằng này chưng hửng vì theo nó, phần tiếp theo mới hay. Hay gì mà hay! Dona của tôi (từ lúc ấy trở đi tôi đã dùng từ ‘Dona của tôi’) quả là tội nghiệp vì từ sau tai nạn khủng khiếp đó thần kinh nó rất dễ bị kích động, trí thông minh kém, tầm quan sát càng kém. Tôi nuôi nó tính ra được gần mười năm, chưa bao giờ để nó bị đòn, bị xích, bị đói lạnh mặc dù trong khoảng thời gian đó tôi không có chỗ ở nhất định, không có thu nhập nhất định. Học trò đến học, bạn bè đến uống trà, cha mẹ anh chị em đến thăm, trông thấy Dona chột mắt, xấu xí, bướng bỉnh, gọi không đến, bảo không nghe, hay cắn người bất tử, đều chán ghét ra mặt. Không ít lần học trò dâng lời ‘sàm tấu’, cô cho nó đi, nuôi con khác, không thôi bán nó cho quán thịt cầy. Tôi lắc đầu, nó đã chột, tính khí lại dở, không biết coi nhà, sủa trộm, cho ai lấy. Quán thịt cầy mua là mua chó ta, chó to, còn nó không ta, không to, bán ai mua. Không thể cho cũng không thể bán, tôi cứ thế nuôi nó. Nó cũng tỉnh bơ ở với tôi. Lần dọn nhà cách đây gần tháng, tôi và Dona phải đi bằng xe tải. Quãng đường 150 cây số từ Bình Dương về Bà Rịa mất gần bốn tiếng đồng hồ. Đến nơi, tôi bận chỉ huy thầy thợ bở hơi tai. Chỗ này đặt mấy chậu cây cảnh, chỗ kia kê bàn ghế, kệ sách, đồ thờ... Từ sáng đến tối, hai ngày liền, tiếng máy khoan rít liên tục, tiếng đồ đạc bị dịch chuyển, tiếng chân người ra vào rậm rịch…Có lẽ từng quen với những trận dọn nhà trước đây của chủ, Dona không tỏ ra hoảng sợ. Ngược lại, nó thong dong đi hết gần trăm thước chiều dài khuôn viên nhà đất, thỉnh thoảng ghếch chân ‘đánh dấu’ vào một lùm cỏ, một gốc cây nào đó. Khi công việc dọn nhà tạm xong, buổi tối, chủ và chó ngủ ngon trong căn nhà ngăn nắp, dễ thương. Chỗ của Dona sát giường tôi, là cái gối đặt trên tấm đệm nhỏ ấm áp. Tôi thức trước, nhoài người, đưa tay xuống gãi vào bộ lông sạch sẽ, không ve bọ của Dona. Kiểu đánh thức này Dona rất khoái. Cu cậu nằm ềnh ra, duỗi hết bốn vó, sung sướng rên ư ử, mặc cho tiếng hàng xóm gọi ơi ới ngoài cổng. Tôi phải dúi vào sườn Dona giục ‘sủa đi, dậy ra xem ai, Dona!’ nó mới uể oải ‘hỏi’ gâu, gâu (đi đâu, đi đâu) chiếu lệ. Về ‘đức’ kiệm lời này, Dona có vẻ giỏi. Thường chó được nuôi để đánh hơi, sủa người lạ vào nhà, phát hiện ăn trộm ăn cướp đột nhập đêm hôm. Thế nhưng tôi nuôi Dona, có ai vào nhà, tôi phải đánh thức nó dậy ‘nhờ’ sủa mấy tiếng. Không thế, nó ngủ tít, chỉ sủa khi thích, bất kể có người hay không. Thế mới sầu! Bữa cơm của chúng tôi- tôi và Dona- ở đất mới phải nói là ngon, và lành, do vị thế tọa lạc của ngôi nhà chỉ cách biển 10 cây số. Trong khi Sài Gòn và các nơi khác, để giữ thủy hải sản tươi lâu, người bán không từ thủ đoạn nào (phổ biến là ướp phân u rê vào cá) thì chợ xã Hòa Hiệp, nơi tôi ở, mấy bà bán cá chẳng cần ‘mông má’ gì hết. Chậu tôm, ghẹ, mực của họ đầy vun, con nào cũng tươi rói. Cá biển lật mang đỏ sẫm, thịt chắc, da óng ánh tự nhiên. Đang mùa mưa bão, trời rét căm căm, mưa rả rích suốt ngày. Nhìn chỗ nào cũng cao su, điều, tiêu xanh ngắt, bịt bùng. Đường xá vắng teo, lầy lội. Tình cảnh đó khiến nồi cơm nóng hổi, đĩa cá rán chấm nước mắm tỏi ớt, thêm rau ghém, trở thành cực kỳ gợi cảm. Chả trách các cụ xưa từng bảo ‘có cá đổ vạ cho cơm’. Suốt tuần, tôi và Dona bị cơm và cá biển ‘đổ vạ’ liên tục. Lúc đầu, Dona ‘chơi’ một phát, hết nửa con cá nục rán. Sau nghe mùi cá, cu cậu chạy. Chúng tôi không hề biết bên kia rào, hai con chó hàng xóm nước rãi nước rớt chảy dài nhìn đĩa cá không chớp mắt. 2. Mất Tôi không nghĩ có thể mất Dona dễ dàng thế. Sáng đó, tôi mở cổng, Dona chạy ra, đi lăng quăng. Chiếc bóng nhỏ thấp của nó lúc bên này vệ đường, lúc bên kia vệ đường, men theo bờ cỏ. Những lần trước cũng thế, cũng lăng quăng, và mau chóng trở vào khi chủ gọi. Nhưng lần này thì không. Đang định đi tìm thì đám học trò cũ gần chục đứa, bất ngờ lái xe từ Sài Gòn, Mỹ Tho xuống thăm. Căn nhà nhỏ của tôi lập tức ngập tràn tiếng cười nói. Tôi tuy ngồi phòng khách tiếp bọn học trò, mắt vẫn dõi ra cổng, xem chừng bóng lông nâu, mãi xế trưa khi học trò về hết mới có thì giờ sục vào những lùm bụi, gọi tên, huýt sáo, tạt vào các nhà ven đường mô tả, hỏi han về con chó thấp nhỏ chừng 5 ký, chột mắt, hai chân sau yếu, chạy chậm, sủa ít…của mình. Buồn thay, không ai biết, không ai thấy Dona! Cứ như thể nó là khói từ trời sa xuống rồi lại bay ngay về trời! Ba ngày liền, tôi kiếm tìm vô vọng. Ban đêm, nằm lắng nghe xem có tiếng sủa, tiếng rên hay tiếng cào móng yếu ớt của Dona mà tôi đoán nếu còn sống, bò về được thì cũng kiệt sức, ướt nhem, bết bùn. Nhìn cái đệm cạnh giường còn vướng ít lông Dona, chén nước, đĩa cơm của nó dưới chân bàn ăn, tôi cảm biết quả tim già yếu của mình đang quặn thắt. Gọi điện than buồn với ‘hội chó’, được bạn X. ân cần chia sẻ ngay. Ông X. này nói nhiều câu sâu sắc. Ông bảo đàn bà trong đời ông trước sau là ba bà, ai cũng có ưu điểm nhưng chưa ai so được với chó, và do vậy, ông cũng chưa yêu ai bằng yêu chó. Sợ tôi phản đối, ông giải thích ngay: Chó trung thành vô điều kiện. Chó không càm ràm, không tham lam, giấu đút, lừa lọc như ‘mấy con mẹ đó’. Cho nó ăn, cho nó ở, đừng đánh nó, đó là ba điều nó cần. Nếu được âu yếm, thương yêu nữa thì càng tốt. Mình có răng vẩu mắt lác, chó không chê, có lẩm cẩm già nua, ốm đau thất nghiệp, nói nhiều, ở dơ, học dốt chó cũng ô kê hết, trong khi với đàn bà thì… xin lỗi! Ông X, kết luận, cả đời đi tìm thứ tình yêu bền chặt, không vụ lợi kiểu chó yêu chủ nhưng không gặp. Đụng mụ nào cao lắm vài năm lại phải nói bái bai, bây giờ ông ở vậy với con chó biết thở dài, chép miệng, ngoáy đít như đàn bà nhưng biết yêu ông hơn hẳn đàn bà (!). Một chị bạn khác, tu tại gia, nghe tôi mất chó, đã sốt sắng dẫn thuyết Duyên Khởi của nhà Phật an ủi tôi. Chị bảo chủ và chó gặp nhau là duyên. Chứ không, tại sao mình không gặp con khác mà gặp ngay nó. Tại sao nó không gặp chủ khác mà gặp ngay mình. Lúc còn duyên, mình đâu nó đó, tha hồ chăm sóc, tắm rửa, chữa bệnh, chơi đùa, cho ăn đủ thứ. Lúc hết duyên, muốn giữ cũng không giữ được. Tìm kiếm, treo bảng hậu tạ, đăng hình lên báo đều vô ích. Thay vì buồn tiếc con chó, nên rút bài học về lẽ vô thường, đừng nuôi thêm con nào nữa. Vì hễ nuôi sẽ bận bịu, yêu thương. Mất sẽ khóc. Mà thương và khóc, ích gì cho chó và chủ đâu! Lời chia sẻ thứ nhất của ông X làm tôi tiếc nhớ Dona. Lời chia sẻ thứ hai của chị bạn tu tại gia làm tôi bình tâm ít nhiều. Đến lời chia sẻ thứ ba lại làm tôi bối rối. Đó là lời chia sẻ của cô em, từng nhiều năm kinh doanh chó, thấy hết vòng đời sinh lão bệnh tử của kiếp chó, từ giống Berger cao lớn tới giống Chihuahua ngồi gọn trong lòng bàn tay. Cô bảo, con người nuôi chó như sắm phương tiện- phương tiện di chuyển (chó kéo xe vùng tuyết), giữ nhà, dẫn người khuyết tật, phương tiện giải trí, lấp cô đơn, phương tiện điều tra, phá án (tìm dấu vết tội phạm, ma túy, nạn nhân thiên tai) kể cả phương tiện ‘tiếp khách’(thịt chó), làm giầu (lái chó). …Như vậy có thể nói con người nuôi chó vì con người chứ không phải nuôi chó vì chính con chó. Tất cả những xúc cảm như yêu thương, tức tối, tư lự, sầu khổ, lo lắng, chẳng qua đều nhân danh cái tôi bị sứt mẻ, thương tổn, mà cái tôi nào chả ích kỷ như cái tôi nào, chỉ có điều sự ích kỷ, đôi khi ở dạng vi tế, hoặc được dán nhãn mỹ miều, khó thấy mà thôi…Cô em còn nói nhưng cô chị đã không còn nghe. Tai ù lên, tâm trí hoang mang. Những ngày kế tiếp, sự mất chó của tôi được mỗi người đến nhà ‘chia buồn’ theo một cách. Tai tôi vốn đã ù, tâm tôi vốn đã hoang mang, càng ù, càng hoang mang tợn. Bà hàng xóm, chủ hai con chó đói vêu vao hôm nọ, mạnh bạo như đàn ông, nói oang oang, con chó vừa chột vừa đoảng, có gì quý hóa mà thương tiếc. Mất thì thôi, nuôi con khác. Có lẽ bị bộ mặt ‘mất sổ gạo’ của tôi làm ngứa mắt, bà hàng xóm thấy cần phải lôi kẻ vô minh khỏi cơn ‘mê chó’, bà hăng hái đả kích Dona lười nhác, kén ăn, cậy thế, chả bù chó nhà bà ngày một bữa, chỉ cơm cục vứt ra, không mắm muối đồ ăn. Đẻ cũng kệ. Ốm cũng kệ. Mưa gió cũng kệ. Cấm vào nhà. Thế mà không mất, không chết, khỏe mạnh đàng hoàng. Đặc biệt con đen, trông hom hem bẩn thỉu nhưng ‘có võ’ đánh rắn. Có lần nghe động, thấy con rắn khoanh đen khoanh vàng trườn từ bụi cỏ ra, nó nhảy vút lại. Con rắn ngóc lên mổ bên này, nó tránh sang bên kia. Hai ba lần như thế rồi rình cắn một phát vào gần đầu rắn. Phát nữa vào giữa lưng. Con rắn dễ chừng hơn ký lô, nằm hết dẫy. Chó thế mới là chó.…Bà hàng xóm nói xong, hả hê đi về. Một bà khác xuất hiện. Bà này từng có lần vào nhà tôi, bị Dona chồm lên cắn chân, giằng lại vài món đồ lặt vặt tôi dư dùng, cho bà ta. Bà xách theo cái giỏ cói hơi phồng. ‘Chó Dona của cô giáo khôn, biết giữ của. Chắc chúng nó rình từ lâu, đợi cô sơ suất là bắt ngay con chó. Thôi thì nuôi con bé này cho vui vậy’. Vừa nói bà vừa mở giỏ, lôi ra con chó nhỏ lông nâu xù, mặt mày ngơ ngác. Bất giác, trong trí tôi hiện lên rõ mồn một hình ảnh Dona nhỏ xíu ngồi trong cái giỏ mười năm trước. Sao mà khéo trùng hợp! Giỏ trước giỏ sau cách nhau mười năm, giỏ nào cũng đựng con chó nhỏ lông nâu. Giỏ nào cũng chứa sẵn ‘duyên’ sẵn ‘nợ’! Tôi biết chỉ một cái gật đầu của mình, tất cả niềm vui nỗi buồn về chó, từ chó sẽ lập lại y hệt. 3. Khoan Con chó lần này, may thay, đủ hai mắt. Nó ngồi dưới đất, im lặng nhìn tôi như đợi một phán xét, một quyết định quan trọng nhất đời. Những lời nói của ông X, chị đi tu, bà hàng xóm và nhất là cô em ‘lái chó’, thi nhau nhảy múa loạn xạ trong đầu khiến tôi phân vân, suy nghĩ. Tôi nhìn con chó nhỏ một cách nghiêm chỉnh, lần đầu tiên, như kiểu nhìn một cá thể có quyền sống, quyền mưu cầu hạnh phúc. Nó chắc chưa từng được chủ hỏi ý trước khi cho vào giỏ, xách đi. Đối với chủ, bán cho quán ‘hạ cờ tây’ cũng tốt, vì được tiền. Cho nhà tử tế như nhà tôi (!) cũng tốt, vì được ơn nghĩa, nhờ cậy. Đằng nào cũng là ‘được’. Đối với con chó, không đơn giản thế, vì đời nó như hạt mưa sa, vào quán thịt cầy là ‘vào giếng thơi’ còn vào nhà tử tế coi như ‘ra biển rộng’. Hai chữ ‘vào- ra’ khác nhau một trời một vực, một sống một chết. Đối với tôi, tạm thời bây giờ, tôi chưa muốn nuôi con chó nào khác. Phần vì Dona mới mất. Chỗ trống do nó để lại trong nhà và trong lòng tôi khá lớn. Rước con chó khác về lúc này có gì đó như một sự bội bạc. Phần vì sự vắng mặt của Dona, thú thật, đã khiến nhà cửa sạch gọn nhiều, bản thân tôi cũng khỏe hơn, rảnh rỗi hơn…Bà chủ chó sốt ruột nhìn tôi, nhìn con chó nhỏ. Tôi đăm chiêu. Con chó cũng không nhúc nhích. Chả biết làm gì hơn, bà ta cũng ngồi im, nhóng mắt ra ngoài cửa sổ, trông chừng cái xe. Chốc chốc lại phàn nàn, giá mà nhà có con chó…[NH]
Published in Phóng Sự
Monday, 06 February 2012 16:57

Jacques Prévert, nhà thơ của tự do

Jacques Prévert (1900 - 1977) THÂN TRỌNG SƠN Phải nói gì đây để giới thiệu Jacques Prévert? Một tác giả chuyên viết kịch bản và đối thoại cho phim ảnh? Một nhà văn viết truyện thiếu nhi? Một kịch tác gia sáng tác và phóng tác nhiều vở kịch cho Nhóm Kịch Tháng Mười? Một người yêu hội họa, bạn thân của các danh họa Braque, Picasso, Max Ernst... , tự minh họa nhiều sách của mình, từng sáng tác và triển lãm tranh cắt dán? Một nhà thơ lúc nhỏ chỉ ngồi trên ghế nhà trường đến 15 tuổi mà về sau có tác phẩm được đưa vào sách giáo khoa làm tài liệu học tập cho bao nhiêu thế hệ người học tiếng Pháp? Một tác giả ca từ của hàng chục bản nhạc được những giọng ca hàng đầu của làng âm nhạc Pháp giới thiệu từ nửa thế kỷ nay và được người yêu nhạc khắp nơi trên thế giới thuộc nằm lòng, kể cả qua các bản dịch? Chân dung của Jacques Prévert đã được khắc họa qua những lĩnh vực đa dạng và phong phú như thế. Sinh ra cùng với thế kỷ XX và sống đến 3/4 thế kỷ này, Jacques Prévert đã để lại cho đời những dấu vết sâu đậm. Năm 1992, mười lăm năm sau khi Ông qua đời, toàn bộ tác phẩm của Ông đã được in trong Tủ sách Pléiade, một tủ sách "sang trọng" dành cho những tác giả mà tài năng và danh tiếng đã được thừa nhận. Tập thơ Paroles (Lời nói) xuất bản lần đầu vào tháng 5 năm 1946, chỉ một tuần sau đã in thêm 5000 bản, đến nay vẫn còn tái bản và tính ra đã có hơn hai triệu bản in. Khắp nơi trên đất Pháp hiện nay có hàng trăm trường học mang tên Ông, chỉ tính riêng trường trung học (collège / lycée) có đến 309 trường. Ngay từ năm 1925, Ông đã đồng hành cùng nhóm Siêu thực, cùng sáng tác và sinh hoạt với các nghệ sĩ của nhóm này như Raymond Queneau, Yves Tanguy, Marcel Duhamel, Louis Aragon và tất nhiên cả André Breton; nhưng chẳng bao lâu, với bản tính thích độc lập và tự do sáng tạo, Ông đã sớm tách rời trường phái Siêu thực, tách rời mọi ràng buộc phái nhóm. Trong thời gian từ 1932 đến 1936, Ông tham gia nhóm kịch Tháng Mười, viết nhiều vở kịch có nội dung khuynh tả, bênh vực những người bị áp bức, bóc lột. Nhóm thường trình diễn trong các khu lao động, các nhà máy, cửa hàng, đã từng sang Nga biểu diễn năm 1933. Năm 1950, Ông đã từng lên tiếng ủng hộ Henri Martin, người lính hải quân (sau này là lãnh tụ của Đảng Cộng sản Pháp) đứng ra rải truyền đơn kêu gọi nhân dân Pháp chống lại cuộc chiến tranh của Pháp tại Đông Dương. Thế nhưng, khác với Aragon, Ông không hề gia nhập đảng Cộng sản. Đồng thời với việc viết kịch bản và đối thoại phim - khiến tên tuổi Ông gắn liền với tên tuổi của đạo diễn nổi tiếng Marcel Carné và các diễn viên lừng lẫy như Jean Gabin, Michèle Morgan - Jacques Prévert làm thơ khá sớm. Suốt thời gian từ 1929 đến 1945, thơ của Ông xuất hiện rải rác trong các tạp chí hoặc dưới dạng bản đánh máy. Mãi đến năm 1946, một người bạn thân của Ông là René Bertelé, phụ trách nhà xuất bản Le Point du Jour, mới tập hợp lại và cho ra mắt người đọc, lấy nhan đề là Paroles, mở đầu cho một loạt tác phẩm đều đặn xuất hiện sau đó: Histoires (1946), Spectacles (1951),Grand bal du printemps (1951), Charmes de Londres (1951), L'opéra de la lune (1953), La pluie et le beau temps (1955), Lumière d'homme (1955), Fatras (1966), Imaginaires (1972), Choses et autres (1972) , Hebdromadaires (1972) và, sau khi Ông mất, Soleil de nuit (1980), La cinquième saison (1984). Ngay từ các tập đầu tiên, thơ Jacques Prévert đã chinh phục người đọc mọi lứa tuổi bằng một thứ ngôn ngữ giản dị, dễ hiểu. Ông không coi trọng cú pháp, vần luật, diễn đạt nhẹ nhàng, hồn nhiên, có khi như là văn nói. Cái nhan đề Paroles (Lời nói) cũng phần nào hàm chứa ý đó. Mà nhìn kỹ một chút thì Paroles chính là anagramme (sắp xếp, đảo lộn thứ tự các chữ cái) của La Prose (văn xuôi) đó thôi. Cái xu hướng tự do của Ông trước hết thể hiện ở chỗ trong cùng một tác phẩm, Ông đưa vào đủ loại thơ: thơ có vần, thơ tự do, thơ kể chuyện, trữ tình, công kích, có bài như một tiểu phẩm (saynète), có những bài rất ngắn (3 câu, 4 câu), có bài dài trên 30 trang (La crosse en l'air / Gậy quyền chỉ lên trời). Bài " Les paris stupides / Những cuộc đánh cá xuẩn ngốc) chỉ vỏn vẹn thế này: Un certain Blaise Pascal Etc..etc.. Một ông Blaise Pascal nào đó v.v...v.v... (Ý nghĩa bài này thế nào? Chưa thấy ai "giải mã".). Ông thoải mái sử dụng đủ mọi hình thức chơi chữ (jeux de mots): điệp âm, đồng âm, lặp lại, nói lái, đảo ngược ... Ông đặt tên cho một tác phẩm của mình là Hebdromadaires. Đó là mot valise tức là một từ mới được tạo ra bằng cách ghép một/ vài âm tiết của một từ với một/ vài âm tiết của từ khác (hebdomadaire + dromadaire). Tương tự như thế Ông viết un alcolonel (alcool+colonel) ... Ông chơi chữ với hình thức đồng âm (homonymie): De deux choses lune / l'autre c'est le soleil. (l'une - l'autre và lune.) Cũng là đồng âm nhưng ví dụ sau đây thật là bất ngờ: Les conquérants: Terre ... Horizon . Terrorisons. Còn học trò Hamlet (trong bài L'accent grave) khi chia động từ "être" đã nói Je suis ou je ne suis pas rồi tiếp: Je suis "où" je ne suis pas và kết luận: Être "où" ne pas être / C'est peut-être aussi la question. thì chỉ với một cái dấu accent grave, không chỉ thầy giáo mà cả Shakespeare cũng phải ngạc nhiên. Bài Chant Song trong tập Spectacles không thể nào dịch được vì đây là kiểu chơi chữ đậm phong cách Jacques Prévert: Moon lune chant song rivière river garden rêveur petite house little maison .... Một vài câu trích dẫn (citations) Ông đưa ra cũng rất thú vị: "Người phụ nữ là một tư tưởng, mạnh mẽ nhất của tạo hóa, nhưng là một tư tưởng hay nhảy nhót." (La femme est une pensée, la plus forte de la nature, mais c'est une pensée dansante). (Ta không quên câu của Pascal: "Con người là một cây sậy, yếu đuối nhất của thiên nhiên, nhưng là một cây sậy biết suy tư." ("L'homme est un roseau, le plus faible de la nature, mais c'est un roseau pensant.") "Nếu lời nói là bạc và im lặng là vàng thì tiếng kêu của con tim là một hạt kim cương muôn màu muôn sắc." (Si la parole était d'argent et le silence d'or, le cri du coeur serait alors un diamant multicolore.) "Khi sự thật không được tự do thì tự do không thật: những sự thật của cảnh sát là những sự thật của hôm nay." (Quand la vérité n'est pas libre la liberté n'est pas vraie: les vérités de la police sont les vérités d'aujourd'hui.) "Có lẽ phải cố gắng hạnh phúc dầu chỉ là để làm gương " (Il faut essayer d'être heureux, ne serait-ce que pour donner l'exemple." Một đặc trưng khác của ngôn ngữ Prévert là việc dùng hàng loạt danh từ, tính từ liên tiếp nhau, tiêu biểu là bài Inventaire/ Liệt kê: Một viên đá Hai ngôi nhà Ba phế tích Bốn phu đào huyệt Một khu vườn Những bông hoa Người đọc tưởng như đây chỉ là những liên tưởng ngẫu hứng, không có một trật tự, một ý tưởng nào. Nhưng đọc xuống đoạn sau: Một ông đeo bắc đẩu bội tinh. đi liền sau câu Một cánh cửa với tấm thảm chùi chân hoặc Một vị giáo sĩ một cái mụn nhọt... thì chắc chắn không phải là ngẫu hứng nữa rồi. Thế đó, Jacques Prévert viết như một nhà ảo thuật của ngôn từ nhưng điều này không có nghĩa là thơ Ông dễ dãi, hời hợt. Là người sớm vào đời lao động kiếm sống, Ông tỏ ra đồng cảm với những cảnh đời khốn khó, chia sẻ với những thân phận bị áp bức, bóc lột. Ông lớn tiếng chống lại những thế lực tước đi tự do và hạnh phúc của con người, và, ở đây, không có đề tài nào là cấm kỵ (tabou) đối với Ông. Cho dù đó là tôn giáo: Lạy Cha chúng tôi ở trên trời Xin Người cứ ở đó Còn chúng tôi, chúng tôi cứ ở dưới đất Trái đất đôi khi rất xinh đẹp... (Pater Noster) Cho dù đó là vương quyền: Louis XIV mà người ta còn gọi là Vua Mặt trời Thường hay ngồi trên chiếc ghế thủng Vào khoảng cuối triều đại mình Một đêm trời tối đen Vua Mặt trời bước ra khỏi giường Đến ngồi trên chiếc ghế Và mất hút. (L'éclipse) Ngược lại, Ông luôn ca ngợi tình yêu, thương yêu trẻ em, quan tâm đến thú vật - đấy là những chủ đề quen thuộc trong thơ Jacques Prévert. Ông luôn nhắc đến thú vật trong thơ của mình, đặc biệt là loài chim. Chỉ riêng trong tập Paroles chim đã hiện diện trong hơn hai mươi bài. Chim có thể chịu một số phận bi thảm, chim bị mèo vồ ăn mất một nửa rồi được cả làng tổ chức cho một đám tang thật to (Le chat et l'oiseau / Mèo và chim), chim chết cả hàng ngàn con khi bay về từ hải đảo vì lóa mắt trước ánh sáng ngọn hải đăng nên va đập vào nhau (Le gardien de phare aime trop les oiseaux / Người gác hải đăng quá yêu chim). Nhưng chim bao giờ cũng là biểu tượng của tự do: Vẽ chim thì trước hết phải vẽ cái lồng với cánh cửa để mở, rồi khi chim tự bay vào lồng rồi thì hãy tháo gỡ dần từng chiếc chấn song, có thế chim mới cất tiếng hót ( Pour faire le portrait d'un oiseau / Để vẽ chân dung một con chim). Chim phải được thoải mái bay chuyền từ cành này sang cành khác (Le désespoir est assis sur un banc / Tuyệt vọng ngồi trên chiếc ghế băng). Càng yêu thương loài vật, Ông càng dành nhiều tình cảm cho tuổi thơ. Trẻ em không thể mãi là cậu học trò nhỏ cứ phải đứng trước lớp để cho "người ta hỏi nó / đủ mọi thứ vấn đề". Trẻ em phải được quyền nói có với những gì mà nó thích, phải được lấy phấn đủ màu / trên tấm bảng thương đau / vẽ khuôn mặt hạnh phúc. (Le cancre / Học trò lười). Trẻ em không thể mãi bị tra tấn bởi những bài học nhàm chán hai với hai là bốn, bốn với bốn là tám ...khi mà từ bên ngoài lớp học tiếng chim hót vọng đến. Trẻ em phải được hát được chơi với chim để cho "tám với tám bỏ đi / và bốn với bốn và hai với hai / cũng lần lượt chuồn theo..." và lúc đó thì: ... các bức tường lớp học yên lặng sụp đổ rồi cửa kính trở lại thành cát mực viết trở lại thành nước bàn học trở lại thành cây phấn viết trở lại thành vách đá cán bút trở lại thành chim. và trẻ em trở lại với khung trời mơ mộng của lứa tuổi thần tiên. (Page d'écriture / Trang viết). Đối với JACQUES PRÉVERT, tình yêu rất cần cho cuộc sống, yêu là sống và sống là yêu: Chúng ta yêu nhau và chúng ta đang sống Chúng ta đang sống và chúng ta yêu nhau Và chúng ta không biết cuộc đời là gì đâu Và chúng ta không biết hôm nay là ngày mấy Và chúng ta không biết tình yêu nó ra sao. (Chanson / Bài ca) Đó là tình cảm nhẹ nhàng tinh khiết của những đứa trẻ ôm hôn nhau "trong ánh sáng chói lòa của mối tình đầu tiên" (Les enfants qui s'aiment / Những đứa trẻyêu nhau), tình yêu của đôi trai gái cùng mới mười lăm tuổi phải "ăn gian" cọng tuổi cả hai để nói chúng ta đã ba mươi tuổi rồi chúng ta đã có quyền yêu nhau. (Embrasse-moi / Hãy ôm hôn em). Thơ tình của Jacques Prévert bao giờ cũng mượt mà trau chuốt, kể cả những bài rất ngắn. Alicante chẳng hạn. (Alicante là tên một thành phố hải cảng của Tây Ban Nha, cũng là tên một thứ rượu vang nổi tiếng sản xuất ở đây.) Có thể nói Jacques Prévert đã vận dụng sở trường về hội họa và kịch nghệ trong bài này. Bài thơ mở đầu với hình ảnh một bức tranh tĩnh vật: (1)Một trái cam trên bàn (2)Áo em trên tấm thảm Điều thú vị là tác giả đã chuyển hình ảnh này sang đoạn sau bằng sự nhắc lại mà không trùng lặp ở hai câu 4 và 5: (4)Tặng phẩm ngọt ngào của hiện tại (5)Khí mát của đêm thanh Đến câu thứ ba (được nhắc lại ở câu thứ 6) không gian tĩnh đã nhường chỗ thế giới động với sự xuất hiện của nhân vật: (3)Và em trên giường anh .................. (6)Hơi ấm của đời anh. Và như thế tranh vẽ đã chuyển thành màn kịch ngắn với ngôn ngữ không lời, bố cục độc đáo của bài thơ mở ra nhiều hướng cho người đọc tự cảm nhận. BARBARA là một kiểu thơ tình khác. Đây là một cuộc tình bi tráng trong chiến tranh. Cô gái "tươi cười hân hoan rạng rỡ" vừa mới choáng ngợp trong tình yêu chạy dưới mưa "ngã vào trong vòng tay" chàng trai đã sớm đối diện với "cuộc chiến tranh xuẩn ngốc". Cả hai phải chia tay trong bối cảnh thành phố Brest bị dội bom khốc liệt đến mức tất cả đều bị hủy diệt: Xa, xa hẳn Brest Thành phố không còn chút dấu vết. Câu kết của bài dịch như trên không diễn được cái âm thanh khô khốc, lạnh lùng, bi thương của từ RIEN trong nguyên tác. Thơ của Jacques Prévert còn được chắp cánh bay xa khi chuyển thành nhạc. Bài thơ đầu tiên được phổ nhạc là bài Les animaux ont des ennuis, phần nhạc do một người bạn gái thuở thiếu thời của Ông là Christiane Verger viết từ năm 1928. Về sau, rất nhiều tác giả khác đã sáng tác nhiều ca khúc bất hủ từ thơ của Ông, ngoài Joseph Kosma (1905-1969) được nhiều người biết còn có thể kể Louis Bessières, Hanns Eisler, Wal-Berg, Georges Auric, Jo Warfield, Henri Crolla, Sebastien .... Mấy chục năm nay những bài này đã được nhiều thế hệ ca sĩ trình bày như Agnès Capri, Marianne Oswald, Germaine Montero, Fabien Loris , nổi tiếng hơn là Juliette Gréco, Yves Montand, Mouloudji, les frères Jacques, Edith Piaf và hiện nay còn có Jean Guidoni, Catherine Ribeiro, Djemel Charif. Bài Les Feuilles Mortes ra đời từ 1945, đến nay vẫn còn nhiều người thích hát hoặc thích nghe. Jacques Prévert đã đi qua thời đại đầy biến động của Ông với một thái độ tỉnh táo, không gò mình trong khuôn phép của trường phái nghệ thuật, không để bị ràng buộc bởi xu hướng chính trị, tự khẳng định mình qua nhiều hình thức biểu hiện và nổi trội hơn cả vẫn là thơ vì với Ông " Thơ ca có mặt ở khắp nơi cũng như Thượng đế chẳng có ở đâu cả.Thơ ca là một trong những biệt danh xác thực nhất, hữu dụng nhất của cuộc đời" (La poésie est partout comme Dieu n'est nulle part. La poésie, c'est un des plus vrais, un des plus utiles surnoms de la vie". Thế giới thơ của Jacques Prévert, cũng như chính con người Jacques Prévert, bao giờ cũng tự do, tự do như khí trời, tự do như mây gió, tự do như hoa cỏ trong Đồng Xanh (pré vert) . THÂN TRỌNG SƠN -------------------------------------------------------------------------------- THƠ TÌNH JACQUES PRÉVERT - Lễ hội - Tôi hạnh phúc - Khi cuộc đời... - Những người tình bị phụ rẫy - Alicante - Bài ca người cai ngục - Bộ mặt dịu hiền và nguy hiểm của tình yêu - Bài ca - Những đứa trẻ yêu nhau - Những chiếc bóng - Hãy ôm hôn em LỄ HỘI Và những chiếc ly đã cạn và cái chai đã vỡ Và cái giường mở rộng và cánh cửa đã đóng Và tất cả các vì sao bằng pha lê của hạnh phúc và của vẻ đẹp sáng ngời trong bụi bặm của căn phòng quét dối Và anh say như chết và anh là ngọn lửa vui và em say sinh động khỏa thân hoàn toàn trong vòng tay anh. TÔI HẠNH PHÚC Tôi hạnh phúc Hôm qua chàng nói với tôi rằng chàng yêu tôi Tôi hạnh phúc và tự hào và tự do như ánh sáng Chàng đã không nói thêm rằng chàng yêu tôi mãi mãi. KHI CUỘC ĐỜI ... Khi cuộc đời là một xâu chuỗi mỗi ngày là một viên ngọc Khi cuộc đời là một chiếc lồng mỗi ngày là một giọt nước mắt Khi cuộc đời là một khu rừng mỗi ngày là một cái cây Khi cuộc đời là một cái cây mỗi ngày là một cành cây Khi cuộc đời là một cành cây mỗi ngày là một chiếc lá. Khi cuộc đời là biển cả mỗi ngày là một cơn sóng mỗi cơn sóng là một tiếng than một bài ca một cơn rùng mình. Khi cuộc đời là trò cờ bạc mỗi ngày là một lá bài con rô hay con chuồn con bích lúc vận xui. Và khi đến lúc hên những lá bài của tình ái là cái mông và con cơ. NHỮNG NGƯỜI TÌNH BỊ PHỤ RẪY Anh từng có một cây đèn Và em, em là ánh sáng. Tim đèn, ai đã đem bán? [về đầu trang thơ] ALICANTE Một trái cam trên bàn Áo em trên tấm thảm Và em trên giường anh Tặng phẩm ngọt ngào của hiện tại Khí mát của đêm thanh Hơi ấm của đời anh. BÀI CA NGƯỜI CAI NGỤC Đi đâu đấy chàng cai ngục đẹp trai Với chiếc chìa khóa dính đầy vết máu Tôi đi giải thoát người tôi yêu dấu Nếu như còn có đủ thời gian Người mà tôi đã nhốt Êm ái bạo tàn Nơi kín đáo nhất của niềm khát vọng Nơi sâu thẳm nhất của nỗi dày vò Trong điều dối trá của tương lai Trong lời ngu dại của thề bồi Tôi muốn giải thoát nàng Tôi muốn cho nàng được tự do Kể cả tự do quên tôi Kể cả tự do bỏ đi mất Kể cả tự do về lại Và hãy còn yêu tôi Hay đi yêu người khác Nếu nàng thích người khác Và nếu tôi còn lại một mình Và nàng đã bỏ đi xa Tôi chỉ còn giữ lại Tôi mãi hoài giữ lại Trong hai lòng bàn tay Giữ mãi tận cuối đời Sự dịu êm của bầu ngực nàng được tạo dáng bởi tình yêu. BỘ MẶT DỊU HIỀN VÀ NGUY HIỂM CỦA TÌNH YÊU Bộ mặt dịu hiền và nguy hiểm của tình yêu đã hiện ra với em một buổi chiều sau một ngày dài đằng đẵng Có lẽ đấy là một xạ thủ với cây cung của chàng hoặc là một nhạc công cùng với chiếc thụ cầm. Em không biết nữa Em không biết gì hết Điều mà em biết là chàng đã làm em bị thương Có lẽ bằng một mũi tên Có lẽ bằng một bài hát Điều mà em biết là chàng đã làm em bị thương bị thương ở tim rồi và đời đời Nóng như đốt như thiêu vết thương của tình yêu. BÀI CA Hôm nay là ngày mấy Hôm nay như mọi ngày Cô bạn của tôi ơi Hôm nay như suốt cả đời Em yêu của anh ơi Chúng ta yêu nhau và chúng ta đang sống Chúng ta đang sống và chúng ta yêu nhau Và chúng ta không biết cuộc đời là gì đâu Và chúng ta không biết hôm nay là ngày mấy Và chúng ta không biết tình yêu nó ra sao. NHỮNG ĐỨA TRẺ YÊU NHAU Những đứa trẻ yêu nhau đang đứng Dựa vào cánh cửa của đêm tối mà hôn nhau Khách qua đường đưa tay chỉ chỏ Nhưng những đứa trẻ yêu nhau Đứng đó chẳng vì người nào Chỉ chiếc bóng của chúng Chập chờn trong đêm thâu Khiến khách qua đường giận dữ Giận dữ ghét khinh cười cợt thèm thuồng Những đứa trẻ yêu nhau đứng đó chẳng vì ai Chúng đang ở nơi nào khác xa hơn cả bóng đêm Cao hơn cả ban ngày Trong ánh sáng chói ngời của mối tình đầu tiên. [về đầu trang thơ] NHỮNG CHIẾC BÓNG Em ở đó trước mặt anh trong ánh sáng của tình yêu Và anh anh ở đó trước mặt em với âm nhạc của tình yêu Nhưng bóng em trên tường rình rập từng khoảnh khắc của đời anh Và bóng anh cũng thế rình chờ tự do của em Thế nhưng anh yêu em Và em yêu anh như thể ta yêu ánh sáng và cuộc sống hay mùa hè Nhưng bởi những giờ khắc tiếp nối nhau không bao giờ điểm cùng lúc hai chiếc bóng của chúng ta đuổi theo nhau như hai con chó cùng một lứa giật đứt khỏi cùng một sợi giây buộc nhưng cả hai đều thù nghịch với tình yêu chỉ trung thành với ông chủ với bà chủ của chúng và kiên nhẫn đợi chờ nhưng run rẩy vì tuyệt vọng chờ đôi tình nhân chia tay đợi chờ đời ta kết thúc và cuộc tình đôi ta chờ xương cốt chúng ta ném ra cho chúng để vồ lấy và che giấu cuộc tình và chôn vùi xương cốt và tự chôn vùi luôn tự chôn vùi cùng lúc dưới tro tàn của khát vọng trong mảnh vỡ của thời gian. HÃY ÔM HÔN EM Trong một khu phố ở thành phố Ánh sáng Nơi luôn tối đen nơi chẳng có không khí bao giờ Và đông cũng như hè lúc nào cũng như mùa đông Nàng đang đứng nơi cầu thang Chàng bên cạnh nàng và nàng bên cạnh chàng Lúc này là ban đêm Và nàng nói với chàng Ở đây tối như mực Không có chút khí trời Đông cũng như hè lúc nào cũng là mùa đông Mặt trời của Chúa nhân từ không chiếu tới chỗ chúng ta Vì còn bận rộn quá nhiều ở những khu phố giàu có Hãy siết chặt em trong vòng tay anh Hãy ôm hôn em Hãy ôm hôn em thật lâu Hãy ôm hôn em Để lát nữa sẽ là quá muộn Đời chúng mình là giây phút này đây Ở đây ta chết vì đủ thứ Vì nóng vì lạnh Chết cóng hay chết ngạt Ta không có khí thở Nếu anh thôi không ôm hôn em nữa Chừng như em sẽ chết ngạt mất thôi Anh mười lăm và em cũng mười lăm tuổi rồi Cả hai ta vậy là tròn ba mươi Tuổi ba mươi ta không còn là trẻ nhỏ Ta đã có quyền lao động Ta đã có quyền ôm hôn nhau Để lát nữa sẽ là quá muộn Đời chúng mình là giây phút này đây Hãy ôm hôn em. Thơ JACQUES PRÉVERT THÂN TRỌNG SƠN chuyển ngữ.
Published in Văn Học

Thưa cô Trina, tôi và gia đình đang tìm kiếm mua nhà và vì là lần đầu tiên mua nhà nên chúng tôi có hơi lo lắng không biết là khi đi mua nhà ngoài tiền down mình còn phải đóng những thứ tiền gì nữa, và cần phải chuẩn bị khoảng bao nhiêu tiền thì đủ? Cám ơn Trina! – ÁNH VŨ Chị Ánh Vũ cùng quý độc giả thân mến, mua nhà là một tiến trình phức tạp liên quan đến sự hợp tác của nhiều bên khác nhau và vì vậy người mua nhà phải trả nhiều chi phí cho tất cả các bên liên can. Trina xin được liệt kê những phí tổn thông thường nhất của người mua nhà hay còn gọi là “Buyer’s Closing Cost”. Chi phí mua nhà thường vào khoảng 2% giá nhà mình mua. Nghĩa là, nếu mua nhà giá $300,000 thì tiền closing costs là khoảng $6,000. Cũng có trường hợp phải trả đến 5% hoặc hơn, tùy vào trường hợp riêng của người mượn nợ. Chẳng hạn nếu chúng ta mua condo, minh sẽ bị charge thêm khoảng 0.75% dựa trên tiền “loan”. Ngược lại, có những văn phòng làm loan với 0% “closing costs”, nhưng khi đó tiền lời của sẽ bị đẩy cao hơn giá tiền lời hiện tại để trả tiền “closing costs” cho minh. Ngoài ra, phí tổn mua nhà đến từ nhiều phía. Bốn phía chính nhất như sau: 1) Người làm “loan” hay còn gọi là người khởi đầu “loan” (loan originator), 2) Nhà băng cho mượn “loan”, 3) Công ty Escrow & Title, 4) Các phía khác. 1) Chi phí trả cho người làm “loan” gồm: a. Chi phí khởi đầu “loan” (origination fee hay point): phí này được tính trên phần trăm số tiền nợ nhà. Đa số “loan officer” tính mình 1 “point” hay 1 chấm. Một chấm là 1% tiền “loan”. Ví dụ, chúng ta mua nhà $200,000, bỏ xuống 20% down là $40,000, mình sẽ mượn $260000, và trả một chấm có nghĩa là $2,600 cho người làm loans. Xin lưu ý là nếu chúng ta làm loan trực tiếp với nhà băng, mình vẫn phải trả chi phí “point” này cho người “loan officer” của nhà băng. b. Ngoài ra, chúng ta sẽ trả phí làm hồ sơ “loan” (loan processing fee) cho công ty làm “loan” vào khoảng $595 đến $799. Trong một số trường hợp, chúng ta sẽ trả phí này thẳng cho nhà băng, nếu họ có đội ngũ “loan processor” riêng. c. Một số công ty “loan” lớn còn tính thêm tiền “Broker Admin” vào khoảng $100 đến $200, vì họ có nhân viên kiểm tra hồ sơ loan để bảo đảm mọi giấy tờ làm theo đúng luật lệ của chính phủ. 2) Chi phí nhà băng (lender’s fee hoặc underwriting fee): trung bình từ $775 đến $1100, tùy theo nhà băng nào người làm “loan” chọn. Ngoài ra, nhà băng còn tính những tiền lặt vặt khác như “tax service” khoảng $65, MERS certificate: $20. 3) Chi phí cho công ty Escrow và Title: a. Công ty Escrow (công ty đứng giữa bảo đảm việc mua nhà này xảy ra theo đúng hợp đồng) và chi phí này tính theo giá nhà mua, và bao gồm tiền cơ bản (base fee) từ $150 đến $300, và $1.5 đến $3 cho mỗi $1000 giá nhà. Ví dụ, $1000 cho nhà giá $400,000. Ngoài ra những escrow fees khác gồm có phí “sub-escrow”: khoảng $60 đến $100, “loan tie-in fee” khoảng $150; tiền chứng thị thực (notary fee): $100 đến $150; tiền wiring tiền: $35 đến $50; tiền gửi mail: $50. b. Công ty Title (công ty bảo đảm căn nhà chúng ta đang mua là hợp pháp): nếu mình mua nhà mượn “loan”, nhà băng sẽ bắt buộc bạn trả tiền bảo hiểm title của căn nhà. Phí title có hai phần: “title insurance” cho chủ nhà dựa trên giá nhà mua và người bán trả phí này, và “title insurance” cho nhà băng, dựa trên số tiền mượn “loan”, và người mua trả phí này. Ví dụ: “owner’s title fee” cho căn nhà $400,000 là $1400, và “lender’s title fee” cho loan $300,000 là $500. Ngoài ra, còn có những chi phí title lặt vặt khác như endorsement fees, khoảng $50 đến $150. 4) Những chi phí cho các phía khác: a. Tiền định giá nhà (appraisal): khoảng $400-$450 cho nhà single home. b. Tiền làm credit report: $20 đến $50. c. Tiền kiểm tra nhà (home inspection): khoảng $250 đến $400. d. Tiền county recording (tiền ghi danh lên hạt quận chúng ta mua nhà về thương vụ mua bán nhà này): $80 đến $125. e. Tiền thuế đất trả lại cho người bán (prorated property tax): thường người bán đã trả trước tiền thuế nhà cho county, vì vậy khi mua nhà, người mua phải trả lại cho người bán một phần thuế nhà này, tính từ lúc họ bắt đầu làm chủ nhà. f. Tiền bảo hiểm nhà (homeowner insurance): khoảng $550 đến $600 cho năm đầu cho nhà khoảng $400,000. g. Tiền lời cho nhà băng: chúng ta bao giờ cũng bắt đầu trả tiền nhà vào đầu tháng, và vì vậy nếu loan của minh đóng giữa tháng, thì nhà băng sẽ yêu cầu mình trả tiền lời cho những ngày này trước đầu tháng tới trong closing cost. Ví dụ “loan” của chúng ta đóng vào ngày 25, mình sẽ đóng tiền lời cho 5 ngày trước đầu tháng kế cho nhà băng tại escrow. Theo luật mới 2010 của HUD (Housing & Urban Development), khi mượn “loan”, người làm “loan” cho chúng ta phải biết hầu hết các chi phí liên quan đến việc mua nhà, và sự khác biệt giữa chi phí phỏng đoán (estimated) và chi phí thật sự (final) không được vượt quá 10%, nếu không người làm “loan” phải chịu trách nhiệm trả số tiền vượt trên 10% này. Thành ra, trách nhiệm của người làm loan rất nặng nề khi cho chúng ta biết những con số chi phí này của tất cả các bên, vì thực tế các phía liên quan không cho biết hết các chi phí cụ thể; hơn nữa, mỗi nhà băng lại có luật lệ riêng về fees nào cần cho biết (disclose), và vì vậy chi phí phỏng đoán của người làm “loan” có thể bị lệch một cách vô tư. Nhiều “loan officer” đã phải liệt kê thêm một số tiền lớn trong bản “fee estimate” để bảo vệ mình. Quí vị đang điên đầu vì nợ nhà chồng chất trả không nổi, hay nhà đang bị nguy cơ bị nhà băng kéo, hoặc tất cả gút mắt về mượn nợ, mua bán nhà cửa? Xin đừng quá lo lắng. Hãy liên lạc ngay với Trina. Là một chuyên viên địa ốc và làm loan chuyên nghiệp, Trina đã giúp cho nhiều quý vị giảm nợ xuống mức thấp nhất với những chương trình loan modification, hoặc mua bán nhà short sale hoặc bank owned với giá cả thấp hơn rất nhiều so với thị trường. Địa chỉ email của Trina là This email address is being protected from spambots. You need JavaScript enabled to view it. hoặc cell phone là 408-828-7714.

Published in Địa Ốc
Hỏi: Tôi năm nay 47 tuổi sang Mỹ đã được 18 năm nay. Tháng trước tôi đi khám tổng quát và được biết tôi bị bệnh tiểu đường dù tôi vẫn thấy khỏe và không có triệu chứng gì. Bà mẹ tôi cũng bị bệnh tiểu đường và chết vì đứt mạch máu đầu mấy năm trước. Ông anh tôi năm nay 54 tuổi, cũng bị tiểu đường và gần đây mới phải mổ tim vì bị nghẹt động mạch tim. Bà chị tôi 49 tuổi bắt đầu bị bệnh tiểu đường hồi năm ngoái. Tôi hỏi thăm bạn bè thấy nhiều gia đình cũng bị chứng bệnh này cả nhà! Xin bác sĩ cho biết bệnh tiểu đường có phải di truyền hay không. Tại sao ở Việt Nam ít thấy bệnh tiểu đường mà sao sang Mỹ nhiều người bị bệnh này? Tôi cũng nghe hiện nay có nhiều thuốc mới trị bệnh này. Xin bác sĩ cho biết bệnh này có trị dứt hẳn được không? Trần H. T. Đáp: Bệnh tiểu đường là bệnh hiện nay càng ngày càng thấy nhiều tại các xứ tân tiến như Hoa Kỳ. Trong vòng vài chục năm nay, số người mắc bệnh này tăng lên rất nhanh. Lý do vì người dân Hoa Kỳ tuổi thọ tăng cao, càng sống lâu càng thấy bị tiểu đường nhiều! Hơn nữa, người dân Hoa Kỳ mập nhiều hơn trước, thống kê gần đây thấy hơn nửa số dân Mỹ đều quá mập và càng mập nhiều càng dễ bị tiểu đường. Tỷ lệ dân Mỹ bị tiểu đường nói chung là 8% dân số. Tỷ lệ này tăng lên đến mức 19% cho những người trên 65 tuổi. Tuy nhiên thống kê trên là cho toàn thể dân chúng Hoa Kỳ. Đặc biệt với dân Á Châu nói chung và Việt Nam nói riêng, tỷ lệ này còn cao nhiều hơn tuy không có thống kê chính xác. Một đặc điểm khác là dân da đỏ ở Hoa Kỳ tỷ lệ người bị tiểu đường cao kinh khủng. Có những bộ lạc da đỏ, mức bị tiểu đường lên đến hàng 50 - 60% số dân! Về phương diện di truyền, dân da đỏ và Á Châu có nhiều đặc tính di truyền giống nhau nên hai giống dân cùng bị tiểu đường nhiều là điều dễ hiểu. Bệnh tiểu đường được chia làm 2 loại. Loại 1 hay còn gọi là loại tiểu đường cần insulin, thường thấy ở người trẻ và hầu như chỉ thấy ở giống dân da trắng. Loại 2 là loại tiểu đường không lệ thuộc vào insulin, xảy ra ở người trưởng thành và người già, loại này thường thấy hơn cả và hầu hết người Việt bị tiểu đường đều thuộc vào loại 2. Bệnh này được coi là bệnh di truyền dù phương thức di truyền chưa đưọc hiểu biết rõ lắm. Tuy nhiên, nếu một người bị bệnh tiểu đường loại 2, gần một nửa số anh chị em người bệnh cũng bị tiểu đường và khoảng 1/3 số người con cũng sẽ bị tiểu đường trong tương lai. Như vậy người bị bệnh tiểu đường thực sự dù sinh đẻ tại Việt Nam cũng đã mang đặc tính di truyền dễ bị tiểu đường. Tuy nhiên vì tuổi thọ ở Việt Nam thấp, nhiều người sẽ chết vì một bệnh nào khác trước khi bệnh tiểu đường phát hiện. Ngoài ra dinh dưỡng thiếu thốn, ít người mập, bệnh tiểu đường nếu có cũng chỉ tiềm ẩn, không gây thành bệnh hẳn. Dĩ nhiên ở một xứ chậm tiến, y khoa thiếu kém, việc định bệnh tiểu đường dù giản dị cũng ít được biết đến. Rất nhiều trường hợp, người bệnh ở Việt Nam bị tiểu đường, nhưng không đi bác sĩ khám bệnh, hay ở vùng quê, thiếu thốn y tế không được biết bị bệnh. Kết quả, người bệnh sẽ chết vì những biến chứng của tiểu đường không được biết đến và chữa trị. Khi lượng đường lên quá cao sẽ gây ra tình trạng hôn mê gọi là hyperosmolar coma và làm chết. Nhiều người bệnh dù trong máu mức đường đã quá cao lên đến 700 - 800 mg% vẫn được người nhà cho uống sữa đặc "bồi bổ", kết quả đường lên cao hơn nữa và chết vì biến chứng hyperosmolar coma! Khi sang sinh sống ở Hoa Kỳ, dinh dưỡng đầy đủ, hầu như người Việt nào cũng lên cân, hàng 10 - 30 pounds là chuyện thường. Vì thế, số người mập tăng lên nhiều và những người có đặc tính di truyền dễ gây tiểu đường sẽ bị bệnh này phát hiện. Lý do người mập dễ bị tiểu đường vì sự biến dưỡng chất đường của tế bào bị rối loạn, không dùng được đường một cách bình thường và làm đường trong máu cao lên. Nguyên nhân vì khi tế bào của cơ thể dùng chất đường để tạo ra năng lượng, sẽ cần đến kích thích tố insulin của tụy tạng. Insulin muốn có tác dụng cần phải gắn trên màng tế bào gọi là insulin receptor và để tác dụng trên tế bào cần đến phân hóa tố gọi là tyrosine kinase. Người mập sẽ có ít cơ cấu tiếp nhận insulin receptor này, hơn nữa phân hoá tố receptor tyrosine kinase của người mập không được làm việc hữu hiệu nên việc biến dưỡng chất đường cho tế bào sẽ bị ngăn trở. Kết quả đường glucose không vào trong tế bào được đầy đủ sẽ làm lượng đường trong máu cao lên nhiều và gây ra bệnh tiểu đường. Như vậy bệnh tiểu đường được định bệnh khi đo lượng đường trong máu cao hơn bình thường. Theo tiêu chuẩn của hội American Diabetes Association, nếu thử máu buổi sáng khi nhịn đói (nhịn 8 tiếng qua đêm), có mức đường cao hơn 126 mg%, hoặc đo bất cứ lúc nào trong ngày không cần nhịn đói mà có lượng đường glucose cao hơn 200 mg%, sẽ định bệnh tiểu đường. Thử máu mới chính xác vì thử nước tiểu chỉ thấy có đường trong nước tiểu khi lượng đường trong máu đã lên đến hơn 200 mg%, đường glucose mới lọt qua cơ chế hấp thu của thận và mới thoát ra ngoài ra nước tiểu và thử nước tiểu mới thấy. Những người bệnh khi mới bị tiểu đường, ở mức đường trong máu chưa cao lắm, thường không có triệu chứng gì. Khi đường trong máu lên cao nhiều hơn, cỡ 200 mg% trở lên, thuờng mới có triệu chứng như thấy đi tiểu nhiều, làm khát nước và làm sụt ký. Bệnh tiểu đường nếu không chữa trị có thể gây ra chết như trường hợp nồng độ trong máu lên quá cao (hyperosmolar coma) gây hôn mê và chết như đã nói trên. Hiện nay biến chứng này ít thấy hơn tại Hoa Kỳ. Tuy nhiên những biến chứng quan trọng khác càng ngày càng xảy ra nhiều. Quan trọng nhất là những biến chứng về tim mạch, khoảng 70% những người bệnh tiểu đường sẽ chết vì bị đứt mạch máu đầu (stroke), nghẹt động mạch tim (heart attack)... Những biến chứng khác như về thận có thể làm suy thận, phải lọc máu vì thận không làm việc; mù mắt vì hư võng mạc (retina); biến chứng thần kinh làm tê liệt (neuropathy), mất cảm giác ở chân làm dễ bị nhiễm trùng, hư thối phải cưa chân... Việc chữa trị bệnh tiểu đường hiện nay đã tiến bộ nhiều với nhiều thuốc mới được cho phép dùng gần đây. Cách chữa căn bản nhất là ăn kiêng, giảm calories và nếu mập cần sụt ký. Những người mập mới bị tiểu đường, ở mức nhẹ, như cỡ từ 126 mg% tới 150 mg%, nhiều khi chỉ cần ăn kiêng, xuống từ 5 đến 10 pounds, có thể thấy mức đường trở loại bình thường, không cần uống thuốc gì thêm. Ngoài ra, người mập nếu bị tiểu đường nặng phải uống thuốc sẽ cần thuốc ít hơn và thuốc có tác dụng mạnh hơn nếu xuống được vài pounds và giữ không cho lên ký lại. Thực sự xuống ký rất khó khăn, ngoài việc ăn kiêng, tập thể dục, hiện nay có những thuốc giúp xuống ký có thể dùng như Xenical, giúp cho không hấp thụ chất béo, hay thuốc Meridia làm giảm ăn. Tuy nhiên dùng những thuốc này phải cẩn thận vì có nhiều phản ứng phụ. Những thuốc dùng để chữa tiểu đường được chia làm nhiều loại. Đầu tiên là những thuốc gọi là loại sulfonylureas như Glyburide, bán dưới tên Micronase, Diabeta, Glynase. Loại khác cũng giống vậy gọi là Glipizide, bán dưới tên thương mại là Glucotrol. Một loại thuốc tương tự gọi là Glitinides bán dưới tên Starlix và Prandia. Các thuốc kể trên có tính chất làm tụy tạng tiết ra kích thích tố insulin nhiều hơn và làm giảm lượng đường. Những thuốc này thường được dùng đầu tiên khi chữa bệnh tiểu đường và có nhiều công hiệu tuy dùng ở người già phải cẩn thận vì đôi khi thuốc có tác dụng lâu làm đường trong máu xuống quá thấp. Một số người dùng những loại thuốc này lại làm dễ lên ký, nên cần phải ăn kiêng nhiều hơn để xuống ký. Loại thuốc kế tiếp là Metformin, bán dưới tên Glucophage. Thuốc này rất hiệu quả, đặc biệt đối với những người mập. Có thể nói thuốc Glucophage nên dùng đầu tiên cho những người bị tiểu đường vì quá mập, vì sẽ giúp ích nhiều hơn để đường xuống nhanh hơn. Cơ chế tác dụng của Metformin là làm giảm mức lượng đường do gan tiết ra. Phần lớn thuốc này được dùng chung với thuốc loại Glyburide hay Glipizide kể trên khi dùng một thứ không đủ để đường xuống bình thường. Một thuốc hay được dùng chung bán trên thị trường dưới tên Glucovance là hợp chất của hai thứ Glyburide và Metformin, dùng rất tiện cho những người bị tiểu đường nặng loại vừa. Thuốc Metformin tương đối ít gây ra phản ứng, tuy nhiên một biến chứng hiếm thấy gọi là lactic acidosis có thể xảy ra nơi những người thận không làm việc tốt, nên cần theo dõi cẩn thận. Loại kế tiếp được dùng khi cả hai thứ thuốc loại kể trên vẫn chưa đủ để mức đường trở lại bình thường. Thuốc loại này gọi là Thiazolidinediones, bán trên thị trường dưới hai tên Avandia và Actos. Thuốc này làm cho tế bào nhạy cảm hơn với kích thích tố insulin và làm giảm lượng đường. Loại này khá hiệu quả và thường được dùng cho những người bị tiểu đường nặng, phải dùng cả 3 loại như Glyburide, Glucophage và Avandia mới làm cho mức đường trở lại bình thường. Dùng loại thuốc sau này thường phải thử máu để coi chừng về gan vì có thể ảnh hưởng trên gan. Một loại thuốc khác tương đối ít được dùng hơn là những loại làm giảm sự hấp thụ chất bột carbohydrates trong đường tiêu hoá vì chất bột khi hấp thụ sẽ đưọc biến dưỡng để trở thành đường glucose trong máu. Loại thuốc này ngăn chặn phân hoá tố alpha-glycosidase và gồn hai thứ thuốc tên là Acarbose và Miglitol. Tuy nhiên dùng thuốc này sẽ làm khó tiêu, đầy hơi, đau bụng nên ít được dùng. Sau cùng đối với một số ít ngưòi bị bệnh tiểu đưòng loại 2 quá nặng, dùng những thuốc uống như kể trên cũng không làm mức đường trong máu trở lại bình thường, sẽ phải dùng thuốc chích Insulin. Thuốc chích có nhiều loại tùy tác dụng nhanh hay kéo dài lâu và có thể dùng hỗn hợp các loại Insulin khác nhau để chích cho có hiệu quả nhất. Khi dùng Insulin để chích phải thử máu ở đầu ngón tay để đo lượng đường thường xuyên vì nếu chích Insulin nhiều quá có thể làm giảm lượng đường quá thấp cũng rất nguy hiểm. Thực sự đối với bệnh tiểu đường loại 2, phần lớn bệnh nhân nếu dùng thuốc uống đúng cách, và dùng một, hai hay cả ba thứ hiệu quả nhất như đã kể trên sẽ giữ đưọc mức đường trong máu trở lại bình thường và rất ít người sẽ phải dùng đến cách chích insulin. Tóm lại bệnh tiểu đưòng là một trong những bệnh thông thường nhất. Đối với người Việt sinh sống tại Hoa Kỳ, càng ngày số người bị bênh tiểu đưòng càng thấy nhiều. Lý do vì đặc tính di truyền và đời sống tại Hoa Kỳ dinh dưỡng quá đầy đủ, ăn uống thừa thãi, số người mập ngày một nhiều hơn. Tuy nhiên, với những thuốc mới trị bệnh tiểu đường khá công hiệu, bệnh này đã chữa trị có hiệu quả nhiều hơn. Tuy nhiên một khi đã bị tiểu đường thường phải uống thuốc suốt đời để ngăn chặn những biến chứng tai hại của bệnh này. Với thay đổi về dinh dưỡng, xuống cân bớt, ăn kiêng, tập thể dục và uống thuốc đúng cách, đều đặn, thường người bệnh sẽ giữ cho mức đưòng trở lại được bình thường và tránh được những biến chứng nguy hiểm. Vì bệnh tiểu đường thường hay đi chung với những bệnh như áp huyết cao, cholesterol cao, vấn đề thay đổi lối sống, cách ăn uống và uống thuốc đầy đủ, theo dõi bệnh thường xuyên càng trở thành quan trọng hơn đối với những người bị chung cả mấy thứ bệnh này. Tuy nhiên, đây chỉ là một cái giá nhỏ để giữ gìn sức khỏe và tránh những tai hại do những biến chứng có thể xảy ra trong tương lai.-BS Nguyễn Đình Phùng
Published in Sức Khỏe
Monday, 06 February 2012 16:50

Mua rượu theo điểm số

Phần đông mọi người khi đi mua rượu đều dựa theo một trong hai tiêu chuẩn để chọn lựa. Một là họ nghe theo lời giới thiệu của bạn bè hoặc người quen đã từng uống qua một vài thứ rượu nào đó và thấy là rất ngon, hoặc rất rẻ xét theo phẩm chất tốt của nó. Hai là họ đọc những lời phê bình nhận xét của các chuyên gia trên báo chí sách vở về những chai rượu được khen là ngon hay xuất sắc, hoặc bị chê là xoàng hay dở tệ. Và đặc biệt là họ theo dõi điểm số cao thấp dành cho các chai rượu này. Vậy điểm số có nghĩa là gì? Ai đặt ra hệ thống điểm số này? Ai có quyền cho điểm? Điểm số có đáng tin cậy không? Nếu có thì đáng tin cậy tới mức nào? Điểm số có nghĩa là gì? Khi nếm thử một ngụm rượu, bạn có thể cảm nhận được ngay là thứ rượu đó ngon hay dở. Đó là nếm rượu theo cảm tính. Phần đông mọi người chúng ta đều nếm rượu theo kiểu này. Bạn chỉ cảm thấy một cách đại khái là ngụm rượu đem đến cho bạn một sự hài lòng khoái chí nào đó nhưng không thể xác định được mức độ của nó tới đâu. Các chuyên gia khi nếm rượu cũng có những cảm nhận giống như bạn, nhưng ngoài ra họ còn có 2 điều đặc biệt: Một là giác quan của họ đã được huấn luyện để trở thành bén nhạy, tinh tế hơn nên họ có thể phân tích một cách chính xác những hương thơm và mùi vị của mỗi thứ rượu. Hai là họ có nhiều năm kinh nghiệm nếm rượu nên đã tích lũy được một "bộ nhớ" rất phong phú về mùi vị và hương thơm của hàng chục ngàn thứ rượu khác nhau, từ loại xoàng cho đến khá, rồi đến rất ngon và tuyệt hảo để làm tiêu chuẩn so sánh. Căn cứ vào những tiêu chuẩn đó, họ đánh giá những chai rượu mà họ nếm thử. Sự đánh giá được diễn tả bằng điểm số để người tiêu thụ có một ý niệm cụ thể, rõ rệt về mức độ thơm ngon nhiều hay ít của mỗi thứ rượu. Ai đặt ra hệ thống điểm số này? Ở Âu châu, người ta thường dùng hệ thống 20 điểm để thẩm định rượu, giống như thày giáo chấm bài luận văn của học trò ở nhà trường vậy. Nhưng ở bên Mỹ, người ta thấy hệ thống 20 điểm quá hạn hẹp, không đủ để diễn tả sự hơn kém nhiều khi rất mỏng manh giữa 2 thứ rượu có phẩm chất gần tương đương nhau. Chuyên gia Robert Parker bèn đặt ra hệ thống 100 điểm cho rộng rãi hơn. Nhiều người khác thấy hệ thống này dễ xử dụng, dễ hiểu và lại được công chúng Mỹ sẵn sàng chấp nhận ngay nên họ cũng dùng luôn cho tiện. Bây giờ thì hệ thống 100 điểm được phổ biến rất rộng rãi và khi nhìn vào điểm số của một chai rượu, hầu như ai cũng hình dung ra được phẩm chất của nó tới mức nào. Thí dụ, khi thấy chai Lindenmans Cabernet Sauvignon, Bin 45, 2003, làm ở Úc được Robert Parker cho 88 điểm, rồi lại được ủy ban nếm rượu của tờ tạp chí The Wine Report ở Atlanta cho tới 90 điểm mà giá bán chỉ có $8 thì người tiêu thụ biết rằng đây là một chai rất "good value", nghĩa là hàng tốt giá hạ. Họ sẵn sàng bỏ ra $8 để mua về nếm thử và nếu thấy quả thực là ngon và hợp với khẩu vị của mình thì họ nhớ tên chai rượu, nhớ nhãn hiệu ra sao, rồi cứ thế mà tiếp tục mua uống sau này. Trong khi uống chai rượu Úc, người tiêu thụ Mỹ hay Việt đôi khi còn ngẫm nghĩ rồi so sánh với một chai Bordeaux của Pháp giá đắt hơn nhiều mà mức độ hài lòng đem lại cho họ cũng chỉ xấp xỉ như vậy, hoặc còn ít hơn vì chai Bordeaux tuy rất ngon theo tiêu chuẩn Âu châu nhưng có thể không hợp với khẩu vị của họ. Và thế là rượu Pháp dần dần mất khách, nhường chỗ cho những chai rượu Mỹ, Úc, Tân Tây Lan, Chilê, Argentina và ngay cả Nam Phi nữa, tuy mới xuất hiện trên thị trường nhưng được điểm cao nên bán rất chạy. Tình trạng này khiến cho các nhà làm rượu ở Pháp nói riêng, và Âu châu nói chung, hết sức bất bình. Họ bèn chất vấn rằng mấy ông chuyên gia như Robert Parker hay Stephen Tanzer lấy tư cách gì mà tự phong mình làm "phán quan", cho điểm rượu của thiên hạ một cách độc đoán theo khẩu vị riêng của các ông như vậy? Ai có quyền cho điểm các thứ rượu? Chẳng có một chính phủ, một cơ quan quốc tế, một viện nghiên cứu hay một trường đại học nào trao cho ai cái quyền được nếm rượu rồi tùy theo sự ưa thích riêng tư của mình mà cho điểm. Sự thực thì ai muốn đứng ra làm công việc đó cũng được, luật pháp không hề cấm. Vấn đề là người cho điểm có đủ uy tín để được công chúng nghe theo hay không. Robert Parker xuất thân chỉ là một ông Mỹ nhà quê, nhưng càng đi sâu vào nghề này thì cái tài năng thiên phú của ông càng tỏ lộ ra rõ rệt. Ông có tài nếm mỗi ngày cả trăm thứ rượu khác nhau mà vẫn tỉnh táo phân tích mùi vị của mỗi thứ một cách chính xác, rồi cho điểm rất công bằng. Vì căn bản chỉ là một người Mỹ bình dân, giống như bất cứ người Mỹ thông thường nào khác trong đám đông, nên khẩu vị của ông rất giống với họ. Thứ rượu gì ông ưa thích, đại đa số dân chúng Mỹ cũng thấy là họ thích đúng thứ rượu đó. Vì thế nên họ tin theo ông và rất ít khi họ bị thất vọng. Khi thấy ông ngợi khen một thứ rượu nào bằng cách cho điểm cao (từ 90 điểm trở lên), khách tiêu thụ Mỹ đua nhau đi tìm mua thứ rượu đó, và hãng rượu tha hồ hốt bạc. Ngược lại, khi một thứ rượu nào bị ông chê là dở và cho dưới 75 điểm là không ai muốn bỏ tiền ra mua, dù có bán đại hạ giá chăng nữa. Khách tiêu thụ đã không chịu mua thì các hãng phân phối và các chủ tiệm rượu cũng không dám đặt mua thứ rượu đó. Một số hãng rượu bị phá sản cũng chỉ vì một lời phê bình nghiệt ngã của ông. Họ cho rằng họ bị ông chê bai một cách oan uổng, không phải vì rượu của họ dở mà chỉ vì nó không hợp với khẩu vị của cá nhân ông. Có hãng còn đệ đơn kiện ông trước tòa vì đã gây thiệt hại bạc triệu cho họ, nhưng ông khai là ông chỉ khen chê theo sự thẩm định thành thật của mình chứ không hề có ác ý với ai cả. Còn chuyện công chúng Mỹ tin theo lời ông thì đó là vì họ đồng ý với những nhận định của ông, chứ ông đâu có bắt buộc được ai phải nghe theo ông. Vì nguyên đơn không chứng minh được ác ý nên toà án làm sao xử phạt ông được. Điều đáng chú ý là về lãnh vực rượu vang, Robert Parker đã nổi bật lên như một trong những nhân vật có ảnh hưởng mạnh mẽ nhất đối với công chúng trong thời đại bây giờ, chẳng những công chúng ở nước Mỹ mà còn ở nhiều nước khác trên khắp thế giới. Ảnh hưởng của ông lớn đến mức người ta ví ông với Alan Greenspan, cựu chủ tịch Hội Đồng Trữ Kim Liên Bang, tức Ngân Hàng Trung Ương của Hoa Kỳ. Hồi còn tại chức, ông Greenspan chỉ cần đưa ra một nhận xét về hiện tình kinh tế là có thể khiến cho thị trường chứng khoán lên giá vùn vụt hoặc xuống giá thê thảm. Không phải chỉ riêng thị trường ở Wall Street, New York mà cả ở Hong Kong, Tokyo, London, Paris nữa. Mỗi năm vào khoảng cuối tháng 9 đầu tháng 10, ngay sau mùa hái nho, khi rượu vừa được làm xong và đang ủ trong thùng gỗ sồi, Robert Parker thường đến tận những vùng làm rượu vang quan trọng để nếm thử rượu mới. Rượu ở vào giai đoạn "en primeur" đó dĩ nhiên là chưa chín mùi, chưa thể uống ngay được, nhưng nó cho người nếm rượu thấy trước cái tiềm năng của nó ra sao. Căn cứ vào màu sắc, độ đậm, độ nồng, vị chua, vị chát, vị ngọt hàm chứa trong nước nho vừa lên men xong, Robert Parker có thể lượng định được là rượu sẽ đạt tới mức độ thơm ngon như thế nào sau đó 3 năm. Và ông báo cáo ngay với người tiêu thụ, qua tờ Wine Advocate của ông, rằng mùa nho ở vùng ấy, năm ấy, được bao nhiêu điểm nói chung, và từng hãng rượu được bao nhiêu điểm nói riêng. Một trong những vùng được ông hay đến thăm nhất là Bordeaux. Các nhà làm rượu của những châteaux thượng hạng tại đây đều là những cao thủ lừng danh quốc tế, những người vẫn mang nặng cái mặc cảm tự tôn của nước Pháp. Vậy mà đối với ông, họ vừa nể vừa sợ lại vừa có chút ngấm ngầm ganh ghét. Nể và sợ là chuyện đương nhiên bởi vì, như đã nói ở trên, một lời khen hay chê của ông, một điểm số cao hay thấp mà ông dành cho một château có thể khiến cho château đó được hay mất một phần thị trường rất lớn ở nước Mỹ và trên thế giới. Các chủ château cũng như người làm rượu lo ngay ngáy, cứ như các thí sinh đứng trước giám khảo, khi thấy ông nhắp vào một ngụm rượu mới của họ, rồi súc qua súc lại trong miệng cho rượu tiếp xúc với mọi núm thần kinh vị giác, và cuối cùng nhổ toẹt xuống một cái bình hứng. Ông ghi ghi chép chép rồi hối hả đi đến một château khác để làm việc tiếp, không nhận bất cứ một sự chiều đãi nào, dù là một bữa ăn hay một món quà tặng mà các châteaux nồng nhiệt dành cho ông. Có như vậy ông mới giữ được sự khách quan vô tư, không vị nể ai trong việc phê phán rượu. Nhưng thế lực của ông cũng khiến nhiều người ghét. Các nhà làm rượu ở bên Pháp vẫn ngấm ngầm bực tức khi thấy một ông Mỹ nhà quê đóng vai trò phán quan, tự ý khen chê những thứ rượu từng được quốc tế ca ngợi từ mấy thế kỷ nay của họ. Các bạn đồng nghiệp thì cho rằng ông phê phán có tính cách một chiều, chỉ ưa thích những thứ rượu thật nồng đậm, cô đọng, nặng ký, mà coi thường những thứ rượu thuộc loại nhẹ nhàng, thanh thoát, tế nhị hơn. Họ chất vấn giá trị của những điểm số cao hay thấp mà Robert Parker dành cho các thứ rượu, và họ nói rằng những con số đó chỉ phản ảnh sự ưa thích của một người, hay nhiều lắm là một số đông khách tiêu thụ Mỹ thích uống rượu thật nồng, thật đậm. Để tránh tình trạng cá nhân phán xét một cách độc đoán như vậy, các tổ chức khác - thí dụ như tờ Wine Spectator, một tạp chí chuyên về rượu vang có ảnh hưởng lớn nhất ở Hoa Kỳ - tuyển lựa ra một ủy ban nếm rượu (tasting panel) gồm chừng một chục chuyên gia có thẩm quyền để nếm một loạt nhiều thứ rượu khác nhau theo kiểu "blind tasting" tức là bịt kín nhãn hiệu. Nếm kiểu này, giám khảo sẽ giữ được tính cách công bằng, vô tư vì không bị ảnh hưởng bởi danh tiếng hay giá tiền của chai rượu, mà chỉ căn cứ trên những tiêu chuẩn hoàn toàn khách quan để cho điểm. Cuối cùng, người ta cộng chung điểm số của các giám khảo rồi chia ra để lấy một con số trung bình mà họ dành cho mỗi thứ rượu. Đó chính là điểm số được đăng trên tờ Wine Spectator. Nó phản ảnh ý kiến chung của cả một ủy ban chứ không phải chỉ riêng một người nào. Nhưng đôi khi chính tờ Wine Spectator cũng mời một chuyên gia có uy tín trong ban biên tập của họ như James Laube hay Matt Kramer cho điểm một loạt những thứ rượu nào đó mà mấy ông này từng dày công nghiên cứu trong những năm qua, thí dụ rượu Cabernet Sauvignon của Napa Valley thường do James Laube thẩm định. Rượu Ý thì do James Suckling, đóng đô tại vùng Tuscany cho điểm. Điểm số có giúp ích gì cho chúng ta không? Dĩ nhiên, điểm số giúp ích người tiêu thụ khá nhiều khi đi mua rượu. Trước hết nó mách cho người ta biết thứ rượu nào ngon để mà lựa chọn. Dù là do Robert Parker hay bất cứ ai khác đưa ra thì những con số đó cũng phản ánh sự thẩm định được cân nhắc kỹ càng của một chuyên gia. Người tiêu thụ không có đủ thì giờ để tìm hiểu về rượu vang và cũng không có phương tiện để nếm thử nhiều thứ rượu như giới chuyên nghiệp nên ý kiến của chuyên gia là một thứ kim chỉ nam rất tốt để hướng dẫn họ. Khi vào một tiệm lớn và ngắm nhìn hàng ngàn chai rượu với những nhãn hiệu khác nhau, loạn xạ tít mù, người tiêu thụ dễ bị rối trí, không biết nên mua chai nào, bỏ chai nào. Nhưng nếu ở phía dưới những chai rượu đó mà có treo một tấm thẻ hay dán một mảnh giấy nhỏ ghi rõ điểm số dành cho mỗi chai, người tiêu thụ sẽ dễ dàng lựa chọn và quyết định. Nó giống như ta có một người bạn sành rượu vang ngay bên cạnh để khuyến nghị. Nếu chai rượu được ngưòi bạn đó cho điểm số cao mà giá tiền lại tương đối thấp thì tốt quá, phải mua ngay chứ còn đợi chờ gì nữa. Ích lợi thứ hai của điểm số là nó cho ta biết phẩm chất thực sự của chai rượu, bất kể giá tiền là bao nhiêu. Rất nhiều khi người bị ảnh hưởng sai lầm bởi giá tiền của chai rượu. Họ cứ tưởng rượu càng đắt thì tất nhiên phải càng ngon. Điều này chưa chắc đã đúng, hoặc chỉ đúng tới một mức độ nào đó mà thôi. Để tránh khỏi bị ảnh hưởng, các chuyên gia dùng kiểu nếm rượu bịt kín nhãn hiệu như đã nói ở trên. Và kết quả được công bố nhiều khi rất đáng ngạc nhiên. Thí dụ: Chai Paul Hobbs, Cabernet Sauvignon, Napa Valley 2002 được tờ Wine Spectator cho 94 điểm mà giá tiền chỉ có $70, trong khi ấy thì cũng chai Paul Hobbs, Cabernet Sauvignon, cũng năm 2002 nhưng làm bằng nho mọc trong khu vườn nổi tiếng Beckstoffer To-Kalon giá bán tới $265. Chai rượu đắt tiền này có ngon hơn không? Thưa kết quả của buổi nếm rượu bịt kín nhãn hiệu cho thấy WS cũng chỉ cho nó đúng 94 điểm, nghĩa là thực chất chẳng hơn chút xíu nào. Sau khi được biết như vậy rồi thì chúng ta đâu có khùng mà mua chai rượu đắt. Có phải điểm số nào cũng đáng tin cây như nhau không? Không đúng. Ta chỉ nên tin tưởng ở các chuyên gia hoặc các tờ tạp chí đã được sự tín nhiệm của công chúng từ lâu năm. Muốn được tín nhiệm như vậy, họ phải chứng tỏ họ có đủ khả năng phán đoán phẩm chất của các thứ rượu một cách bén nhậy, chính xác và khách quan, vô tư. Tờ Wine Spectator có thể nhận đăng quảng cáo cho một hãng rượu hay một thứ rượu nào đó, nhưng không vì thế mà họ cho điểm thứ rượu đó cao hơn. Vả lại, họ nếm rượu theo kiểu “blind tasting” nên cũng chẳng biết chai nào vào với chai nào mà thiên vị. Họ chỉ dùng giác quan đã được tinh luyện của họ để thẩm định, phân tích rồi cho điểm căn cứ theo những tiêu chuẩn đã ấn định sẵn, do đó ta có thể yên trí nghe theo lời khuyến nghị của họ. Mỗi khi dùng điểm số để làm tiêu chuẩn hướng dẫn, ta cần lưu ý mấy điểm sau đây: 1. Nên nhìn kỹ coi ai cho điểm: Nếu là những tên tuổi đã có uy tín từ lâu, thí dụ Robert Parker của tờ Wine Advocate (viết tắt là RP hay WA), hoặc Wine Spectator (viết tắt là WS) thì rất đáng tin cậy. Nhưng nhiều khi chủ tiệm lại nhờ chính những người bán hàng trong tiệm nếm thử rượu rồi cho điểm thì không cần phải nói, ta cũng thấy là khó mà có được sự khách quan, thành thật. Người bán hàng có thể có kiến thức khá nhiều về rượu vang và biết thẩm định rượu nhưng khó tránh khỏi khuynh hướng đánh giá chai rượu trong tiệm của họ cao hơn phẩm chất thực sự của nó. Điểm số do các "salesmen" cho thường có những cái tên lạ hoắc ký ở phía dưới. Bởi thế, khi thấy tên lạ, ta nên dè dặt hơn. 2. Điểm số dành cho rượu mới sẽ được thẩm định lại: Khi một mùa nho mới vừa được làm thành rượu, các chuyên gia thường được mời tới nếm thử coi rượu năm đó có triển vọng ra sao. Lúc ấy họ chỉ thẩm định rượu căn cứ trên tiềm năng mà nó hứa hẹn sẽ đạt tới trong tương lai. Điểm số họ đưa ra chỉ là một sự phỏng đoán rằng thứ rượu này nếu để lâu thêm ít năm nữa thì sẽ ngon tới mức độ nào. Dĩ nhiên họ không đoán mò như thày bói mà căn cứ trên nhiều yếu tố rõ rệt, khiến cho họ có thể kết luận một cách khá vững chắc là rượu sẽ phát triển ra sao. Mặc dầu vậy, sự thẩm định lúc ban đầu của họ không phải bao giờ cũng đúng. Sau khi rượu đã được yên nghỉ vài năm trong gỗ sồi, và được đưa ra bán, họ lại uống thử và có thể thay đổi điểm số vào lúc đó. Có khi 10 hay 20 năm sau họ nếm lại, và thấy cần phải điều chỉnh điểm số cho phù hợp hơn với thực tế, như trường hợp nếm rượu Bordeaux '82 trong những năm 2003-2004 vừa qua. 3. Điểm số chỉ được áp dụng cho từng loại rượu riêng biệt chứ không có giá trị chung: Các chuyên gia cho điểm căn cứ trên những đặc tính bắt buộc phải có của mỗi loại rượu. Thí dụ một chai Sauternes như chai Chateau Rieussec 2001 mà được tờ Wine Spectator đánh giá cao tới 100 điểm, đứng đầu danh sách Top 100 của năm 2004, là vì nó có màu vàng tươi như hổ phách, có mùi thơm ngây ngất của nước nho được cô đọng bởi nấm mốc Botrytis, có vị ngọt đậm đà như mật ong lấy từ nhụy hoa rừng. Nhưng khi họ thẩm định rượu Cabernet Sauvignon thì những tiêu chuẩn để cho điểm lại khác hẳn. Vị ngọt không còn là một đặc tính đáng qúy nữa, mà chỉ cần có chút ít, vừa đủ để quân bình với vị chát thôi. Do đó, nếu xưa nay bạn vẫn ưa uống rượu ngọt và lấy rượu Sauternes làm tiêu chuẩn thì khi thấy chai Cabernet Sauvignon, Harlan Estate, Napa Valley 2002 được 99 điểm, bạn nên biết rằng chai rượu đó chưa chắc đã ngon đối với bạn đâu. Từ nhận xét này, ta có một hệ luận là: 4. Chỉ coi điểm số như một lời khuyến nghị, chứ không nên tin tưởng tuyệt đối: Ngay cả những điểm số do các chuyên gia hay tạp chí có uy tín đưa ra cũng không phải là Kinh Thánh. Lý do là vì nhiều khi khẩu vị của họ chưa chắc đã hợp với khẩu vị của bạn. Bạn mua rượu là để cho mình thưởng thức chứ đâu phải để tuân thủ những gì mà mấy ông đó phán ra. Chính bạn mới là thẩm quyền tối hậu, bất kể ông Robert Parker hay ông Stephen Tanzer nghĩ sao. Nhiều khi tôi thấy tờ Wine Enthusiast, một tạp chí rất phổ thông, khen nức nở một chai rượu nào đó và cho tới 93 điểm, tôi cũng tò mò chạy ra tiệm mua một chai về uống thử coi ra sao. Nhưng nếm đi nếm lại, ngẫm nghĩ hoài mà vẫn chỉ thấy chai rượu đó uống khá ngon thôi, cho 83 điểm là phải rồi, có rộng rãi lắm cũng chỉ 85 hay 86 chứ làm gì mà tới 93? Nói tóm lại thì khi muốn tìm mua những chai rượu vang ngon để thưởng thức, bạn rất nên để ý tới những điểm số do các chuyên gia đáng tin cậy dành cho chai rượu. Ở bất cứ giá tiền nào bạn cũng có thể tìm được những chai rượu ngon, có điểm số khá nhất ở bên trong tầm cỡ đó. Bạn chỉ muốn chi dưới $10 cho chai rượu để uống với món thịt bò lúc lắc trong bữa cơm tối nay ư? Xin giới thiệu với bạn chai Cabernet Sauvignon 2005 do hãng Alice White ở Australia sản xuất, giá chỉ có $7 thôi mà được Wine Spectator cho tới 87 điểm chứ đâu phải giỡn? Còn nếu bạn muốn thưởng thức những chai thượng thặng từ 97 tới 100 điểm, thì giá trung bình phải vào khoảng trên $200. Nhưng ở mức từ $50 đến $100, 3 chai rượu ngon tuyệt cú mèo sau đây đều được Wine Spectator cho 96 điểm: - Lewis, Cabernet Sauvignon, Napa Valley 2002, $65 - Delectus, Cabernet Sauvignon, Rutheford, Sacrashe Vineyard 2001, $75 - Schrader, Cabernet Sauvignon, Napa Valley, Beckstoffer To-Kalon Vineyard 2002, $75 Chỉ phiền một nỗi là những chai rượu ngon cỡ đó mà giá tương đối hạ như vậy thì giới sành điệu tranh nhau vơ vét hết, khó lòng còn sót lại được một chai nào trên thị trường. Nếu bạn bảo tranh dành nhau rượu thượng hạng làm chi cho mệt, mua chai nào sẵn có ở ngoài chợ, chỉ vào khoảng sáu bảy đồng uống chơi là được rồi, thì xin mách bạn chai Columbia Crest, Cabernet Sauvignon, Two Vines, 2003 hay 2004 đều ngon cả. Chai này giá có $6 mà được tới 86 điểm đó bạn. Lê Văn, Certified Specialist of Wine Tác giả "Rượu Vang, Món Quà của Thượng Đế", có bán tại các tiệm sách và video VN, hoặc tại www.levanwineclub.com

Published in Ẩm thực
Cũng giống như năm 2010, Quốc hội đã thất bại trong việc ban hành bất cứ luật di trú nào có ý nghĩa trong năm 2011, và còn để lại một hệ thống di trú chưa hoàn chỉnh đã mang lại một số phương hướng xấu trong ngành di trú hiện nay. Những lời hứa hẹn của Tổng thống Obama về việc cải tổ di trú vẫn chưa hề được thực hiện. Một vài biến cố di trú đáng chú ý trong năm 2011 như sau: - Tối Cao Pháp Viện Hoa Kỳ đã quyết định duyệt lại luật di trú đang gây tranh cãi tại tiểu bang Arizona. - Hai tiểu bang Georgia và South Carolina đã theo bước của tiểu bang Arizona trong việc thông qua những đạo luật cứng rắn về di trú. - Bộ Tư Pháp Hoa Kỳ nhận định rằng tại tiểu bang Arizona, Văn phòng Cảnh sát Quận hạt Maricopa đã vi phạm luật dân sự đối với người dân gốc Tây Ban Nha và người di dân. - Chính phủ Obama đã trục xuất 400.000 người di dân bất hợp pháp trong năm 2011. - Số người chết ở vùng biên giới Hoa Kỳ-Mễ Tây Cơ vẫn tiếp diễn: Dù biện pháp bảo vệ biên giới Hoa Kỳ-Mễ Tây Cơ gia tăng, người di dân vẫn tiếp tục chết thê thảm ở các vùng sa mạc và rừng núi. Một số sự kiện đáng chú ý trong năm 2011 như sau: - Quốc hội, một lần nữa, lại thất bại trong việc đưa ra đạo luật về diện "khách công nhân" một cách hữu hiệu, chính vì thế, nhiều tiểu bang như Alabama đã đưa ra một số đạo luật mới để săn đuổi những công nhân làm việc đồng áng đang lo sợ bị trục xuất. Những nông gia Mỹ phải có quyết định nếu phải đối diện với sự trừng phạt của liên bang nếu thuê mướn những công nhân bất hợp pháp, hoặc sẽ phải thất bại trong việc thu hoạch nông lợi vì thiếu hụt nhân công. Một thống kê ước lượng có khoảng 70% công nhân làm nghề nông làm việc bất hợp pháp ở Hoa Kỳ. - Ðảng Cộng Hòa vẫn khẳng đînh rằng chỉ có một chính sách di trú duy nhất mà họ ủng hộ đó là phải tăng cường an ninh vùng biên giới. Nhưng tập trung vào vấn đề biên giới vẫn không mang lại giải pháp nào trước những vấn đề cải tổ di trú quan trọng hơn. - Hệ thống cấp chiếu khán (visa) và Thẻ Xanh Thường trú nhân hiện nay đang gây trở ngại cho Hoa Kỳ trong việc cạnh tranh khả năng với các nước khác. Các giới chức Hoa Kỳ vẫn chưa làm đúng mức để giữ lại những sinh viên ngoại quốc đã tốt nghiệp chương trình hậu đại học trong ngành toán học và khoa học từ các trường đại học. Các giới chức này cần phải năng nổ hơn nữa để giữ lại những người có khả năng ưu tú nhất có thể được làm việc tại Hoa Kỳ. Quốc hội vẫn không quan tâm đến một dữ kiện quan trọng là người di dân này có đủ khả năng đem lại một nửa Những Khởi Ðộng Mang Lại Thu Nhập Ðầu Tư tại Hoa Kỳ. - Luật di trú luôn luôn bị chi phối bởi chính trị, kinh tế, sự cảm tính và thành kiến. Nếu có những sự cải tổ quan trọng nào về luật di trú trong năm 2012, thì cũng sẽ chỉ là kết quả của các nhà chính trị thuộc hai đảng Dân Chủ và Cộng Hòa muốn tranh thủ giành lấy những lá phiếu của người Mỹ gốc La-tinh. Trong tháng qua, những nhà lãnh đạo thượng viện của đảng Dân Chủ đã tiên đoán về việc Cải Tổ Di Trú trong năm 2012. Họ nói rằng sẽ chỉ có những bước tiến nhỏ trong việc cải tổ di trú trong năm 2012, mặc dù đây là thời điểm mà cả Quốc hội lẫn Tổng thống Barack Obama đang muốn giành sự ủng hộ của cộng đồng người Tây Ban Nha. Ðối với những ứng cử viên tổng thống thuộc đảng Cộng Hòa, chỉ có ông Newt Gingrich, cựu Chủ tịch Quốc hội, đã bày tỏ việc ủng hộ hợp pháp hóa cho những di dân bất hợp pháp, những người đã sống ở Mỹ trong nhiều năm qua. Con đường đến Tòa Bạch ốc trong năm 2012 sẽ đòi hỏi phải có sự ủng hộ của ít nhất 40% số phiếu của công dân Mỹ gốc La-tinh. Người La-tinh, nhóm dân thiểu số phát triển nhanh nhất tại Hoa Kỳ, thì lại quá thất vọng với giới chính trị gia tại Hoa Thịnh Ðốn. Mặc dù lời hứa hẹn trong cuộc bầu cử của Tổng thống Obama về việc cải tổ di trú chưa bao giờ được thực hiện, các Nghị sĩ của đảng Dân Chủ vẫn đang cố thuyết phục cộng đồng rằng ông Obama rất đáng được sự ủng hộ của người gốc La-tinh trong năm 2012. Họ đổ lỗi cho đảng Cộng Hòa luôn tìm cách trừng phạt người gốc Tây Ban Nha sống bất hợp pháp. Sự kiện thực tế cho thấy rằng sẽ không có những tiến bộ nào trong việc cải tổ di trú cho đến khi đảng Dân Chủ được sự ủng hộ của đảng Cộng Hòa. Hỏi Ðáp Di Trú - Hỏi: Nếu có bất cứ sự cải tổ di trú trong năm 2012, thì vấn đề nào được nhắm tới? - Ðáp: Cộng đồng người Tây Ban Nha sẽ vận động để hợp pháp hóa tất cả 12 triệu ngoại kiều bất hợp pháp hiện ở Hoa Kỳ, nhưng đây là một mục tiêu khó thực hiện được. Giới chính trị hy vọng sẽ làm hài lòng người gốc La-tinh bằng cách thông qua một vài đạo luật, chẳng hạn như "Ðạo luật Ước Mơ", cho phép những đứa trẻ ngoại kiều bất hợp pháp được cấp Thẻ Xanh. - Hỏi: Sự thay đổi nào trong luật di trú sẽ giúp cho những đương đơn người Việt Nam xin chiếu khán di dân? - Ðáp: Chỉ một yếu tố duy nhất đã được nói đến trước đây trong việc cải tổ di trú, đó là đề nghị xếp loại diện bảo lãnh con và vợ/chồng của Thường trú nhân được chuyển sang diện bảo lãnh ưu tiên trực hệ. Ðiều này sẽ cắt giảm thời gian chờ đợi và hồ sơ của họ sẽ được giải quyết nhanh như thân nhân trực hệ của các công dân Hoa Kỳ. Trước thềm năm mới 2012, Ban Giám đốc và Ban điều hành Công ty Robert Mullins International xin kính chúc qúy vị một năm mới dồi dào sức khỏe, hạnh phúc và thành công trong mọi lãnh vực. Kính chúc qúy thân chủ mau chóng đoàn tụ với người thân. Chân thành cảm ơn qúy thân chủ đã tin tưởng và hỗ trợ mạnh mẽ Robert Mullins International trong suốt một năm qua. Quý độc giả muốn có thêm tin tức cập nhật, xin theo dõi qua báo chí hay đón nghe chương trình phát thanh của chúng tôi vào mỗi tối thứ Tư từ 7PM và sáng Chủ Nhật từ 11:00AM, trên các làn sóng 1430AM, 1500AM, và 106.3FM. Hoặc liên lạc với một văn phòng Robert Mullins International gần nhất: Westminster: Văn Phòng mới trong khu Hanoi Plaza, trên đường Bolsa (714) 890-9933, San Jose (408) 294-3888 (779 Story Road, phía trước Wal Mart), Sacramento (916) 393-3388 hay Email: This email address is being protected from spambots. You need JavaScript enabled to view it. .
Published in Pháp Luật
Người Anh đã đặt tên cho những căn bệnh mới này: “text neck”, đau ở cổ và “text thumb injury”, đau ngón tay, do việc sử dụng quá mức điện thoại di động và tablet. Theo một cuộc thăm dò được công bố gần đây, tại Anh Quốc, hiện có đến 44% người sử dụng điện thoại di động, ngoài việc nói chuyện, còn bỏ ra từ nữa tiếng đến hai tiếng đồng hồ mỗi ngày để làm chuyện khác như gởi tin nhắn, truy cập Internet, mạng xã hội, . . . Nhưng theo một thành viên của Liên đoàn các nhà liệu pháp vận động Anh quốc, bà Sammy Margo, cơ thể của chúng ta không được cấu tạo để hoạt động như thế. Bà lưu ý là bàn phím của các điện thoại di động quá nhỏ, buộc các ngón tay của chúng ta phải làm việc rất nhiều. Bà Margo cho biết là một bệnh nhân của bà, vì bị đau quá mức, đã phải ngưng sử dụng bàn phím và dùng một phần mềm nhận biết giọng nói để thực hiện những thao tác với điện thoại di động. Ngoài vấn đề bàn phím, màn ảnh cũng là nguyên nhân làm trẹo cổ, đau tay. Trọng lượng trung bình của đầu là từ 4,5 đến 5,5kg. Trong tư thế “lý tưởng”, ta có thể kẻ một đường thẳng giữa tai, vai, hông, đầu gối và mắt cá chân. Khi đó, trọng lượng của đầu được chia đều ra toàn cơ thể. Nhưng khi ta nhìn một màn ảnh, đầu của chúng ta có khynh hướng nghiêng về phía trước, cho nên ta sẽ cảm nhận trọng lượng của đầu nặng hơn gấp bốn lần. Hiện nay, việc sử dụng các tablet kỹ thuật số và các máy đọc điện tử ngày càng phổ biến và theo kết quả thăm dò nói trên, 18 người sử dụng những thiết bị đó bỏ ra từ 2 đến 4 tiếng đồng hồ mỗi ngày. Ấy là chưa kể thời gian sử dụng máy vi tính, công cụ làm việc phổ biến nhất hiện nay. Bà Emmanuelle Rioval, một bác sĩ chuyên về xương ở Paris, cũng thấy là trong số các bệnh nhân của bà ngày càng có nhiều người bị đau đến liệt cả người vì mỗi ngày ngồi trước màn ảnh máy vi tính hơn 5 tiếng đồng hồ. Vấn đề chủ chốt ở đây là thị lực. Dùng điện thoại di động, tablet, máy vi tính buộc các cơ mắt làm việc rất nhiều. Mà khi một cơ mắt được huy động thường xuyên thì các cơ ở những bộ phận khác cũng phải tham gia để hỗ trợ cho nó: quai hàm, cổ, vai. Từ cơ này sang cơ kia, bệnh nhân có thể sẽ có cảm giác kiến bò trên các ngón tay, rồi bị viêm gân, đau gáy, đau lưng, . . . Những triệu chứng này đang trở thành một dịch bệnh ở Pháp, đến mức trở thành bệnh nghề nghiệp chiếm hàng đầu ở nước này, với 9.7 triệu người nghỉ bệnh trong năm 2010. Tại Anh quốc, 1/50 người lao động bị những triệu chứng nói trên. Cho nên, các nhà chuyên môn khuyên là không nên sử dụng các điện thoại thông minh smartphone quá 40 phút mỗi ngày, phải thường xuyên tạm nghỉ vài phút, ngẩng đầu lên cho thẳng với vai. Họ cũng khuyên là nên thường xuyên ngước mặt lên nhìn về phía xa, nên ngáp vài cái để làm thư giản các cơ, vươn vai, ưỡn dài người ra như những con mèo. Làm như thế cũng giống như là ta “khởi động” lại các tế bào, để chúng “ cảnh giác” trở lại. Nếu không, các cơ sẽ bắt đầu co lại dẫn đến đau nhức.-Nguồn RFA
Published in Sức Khỏe
Page 1 of 2

 

 

Articles View Hits
719402
VietTribune.com is an online newspaper owned by Viet Tribune Media Corporation. All rights reserved. 2012