Khi nhìn đến một con số không nhỏ những người đang sống như “những kẻ khốn cùng”, không nhìn thấy được chính mình, không có quá khứ, chẳng nhìn đến tương lai, không biết gì đến cuộc sống đã sống trước năm 1975, không biết gì đến cuộc sống đã chết những năm sau đó, và như chưa từng khắc khoải trong các trại “học tập cải tạo” hay có người thân trong gia đình đã trải qua những ngày tháng đày đọa không đâu đó, chúng ta đương nhiên phải tự hỏi nếu chẳng phải là cây cỏ, người ta có bao giờ suy nghĩ, nhìn kỹ, liệt kê những gì người ta từng có và nay đã mất vĩnh viễn chưa vì biến cố lịch sử ngày 30 tháng Tư 37 năm trước. Đương nhiên, sự mất mát vĩnh viễn này là số phận đã được định đoạt cho tất cả những người cùng chung căn cước nay đã nằm xuống trong 37 năm qua, cho dù không ít người nếu còn sống hẳn sẽ không nhận điều đó. Nhưng câu hỏi này cũng gây cho không ít những người còn “hiện hữu” vì suy nghĩ một nỗi bàng hoàng, vì nó soi rọi ngay vào chính mình những thiếu sót đối với bản thân và đối với những thế hệ con cháu có thể sẽ khó lấp đầy mãi mãi về sau. Hãy chạnh lòng nghĩ đến những gì đã mất đi vĩnh viễn, sẽ không bao giờ tìm lại được, và bởi thế những lớp sau này sẽ không bao giờ có, vĩnh viễn không bao giờ có, một di sản văn hóa bị cuốn trôi ra biển khiến cho đời sau ngoái nhìn lại chẳng thấy có gì. Và khi nghĩ đến trách nhiệm của sự tan hoang, đổ vỡ này, có thể người ta sẽ chợt thấy rằng mình thường quên nhìn lại mình trước những câu hỏi tại sao, vì đâu nên nỗi.
Sau cuộc chiến tranh chống Pháp chín năm (1945-53), đất nước bị chia đôi, cả triệu người ngoài miền bắc phải bồng bế dắt dìu nhau vào miền nam, một phần của đất nước nay trở nên đẹp đẽ hơn bao giờ hết. Đất nước đã được độc lập, tự do, có chủ quyền. Cảm nhận về ý nghĩa của độc lập, tự do, chủ quyền chỉ có thể có dễ dàng ở những thế hệ đã phải sống dưới chế độ thực dân, thuộc địa, người ngoài da trắng mũi lỏ có mặt trên đất nước của mình như những người chủ, người cai trị, và người Việt chúng ta bị bóc lột, tước đoạt và mai một dần những giá trị văn hóa, dân tộc truyền thống của mình. Đất nước đã biết được hòa bình, cũng lần đầu tiên, ít nhất là sau một thập niên, nếu không nói đến cuộc đấu tranh kéo dài chống ngoại xâm từ thời phong trào Cần Vương bắt đầu từ thế kỷ trước đó. Đất nước không có tiếng súng, trong gia đình không còn có người thân, cha hay anh em hay con cái, phải ra mặt trận; người dân không phải chạy loạn thời giặc giã. Không có mất mát, chết chóc, tang thương, đổ vỡ. Có từng sống trong thời chiến tranh gần kề đêm ngày, người ta mới cảm nhận được ý nghĩa quí báu, hạnh phúc của hòa bình, thanh bình. Những thế hệ sau này quen sống trong cảnh thanh bình lâu nay, cho nên khó cảm nhận về hòa bình như những thế hệ đi trước bị ngập chìm trong chiến tranh. Những cái “có” to lớn, vĩ đại của dân tộc đó, thật “lịch sử”, thiêng liêng và quí báu, e rằng những thế hệ sau này sẽ khó cảm nhận được như chúng ta từng cảm nhận hơn nửa thế kỷ trước.
Chúng ta đã từng sống một thời sâu đậm, chan hòa, tràn đầy nếp văn hóa nhân bàn của dân tộc mà không thiếu sự sẵn sàng thích nghi với thời đại mới. Chúng ta sống có quê hương, ít nhất có một cái làng để nhớ đến như quê cha đất tổ. Chúng ta có gia đình, ông bà, cha mẹ, anh chị em, con cháu quây quần như một xã hội nho nhỏ vừa là một ràng buộc vừa là một mái che. Đó là một thời mà gia đình đúng là nền tảng xã hội, cha mẹ dồn hết sức cho con cái, và nơi con cái, sự hiếu đạo thường là ý thức tự nhiên không cần nhắc nhở. Cả một nếp sống văn hóa xã hội và gia đình an toàn bảo vệ trẻ em, gìn giữ gia phong, bảo đảm sự an tâm của tuổi già. Chúng ta có họ hàng, thân bằng quyến thuộc, bên nội bên ngoại để biết được rằng mình là một chiếc lá hay nhánh nhỏ trên một cây lớn. Chúng ta có hàng xóm, láng giềng để biết rằng chung quanh chúng ta còn có những người thân thích dù chằng có bất cứ quan hệ gì huyết thống. Chúng ta có bao nhiêu bè bạn từ thời đi học cho đến khi đi làm - một phần gia vị đậm đà trong cuộc sống xã hội. Đó là một thời mái trường cũng êm đềm như mái nhà, tình yêu còn đẹp, còn lãng mạn, hôn nhân là sự lựa chọn tuyệt vời, và gia đình là cùng đích của cuộc sống. Chiến tranh có mầm mống tái phát từ những năm 1958-1959, kéo dài ròng rã từ 1960 đến 1975 và trở nên cực kỳ khốc liệt trong 10 năm 1965-1975. Những thế hệ về sau này may mắn thay trong mấy chục năm qua chưa hề biết đến chiến tranh, là vết thương rất khó lành miệng của những thế hệ đi trước đã chịu giặc giã triền miên từ đời này qua đời khác. Và chắc rất nhiều người chẳng bao giờ hiểu được thực sự chiến tranh khốc liệt là gì, mặc dù chiến tranh Việt Nam có lẽ là cuộc chiến tàn phá chết chóc nhiều nhất trong lịch sử cận đại của loài người - ngoài hai cuộc thế chiến. Chúng ta chỉ cần nhớ có đến cả ba triệu người bỏ mình trong 15 năm đó, vừa là binh sĩ của cả hai miền hy sinh ngoài mặt trận, vừa cả thường dân tử nạn vì bom đạn. Riêng trong vụ Mậu Thân, số người thiệt mạng đã lên đến hơn trăm ngàn. Trong Mùa Hè Đỏ Lửa, con số này cũng tương đương.
Từ năm 1964, Mỹ bắt đầu tăng cường can thiệp vào chiến tranh Việt nam trước áp lực nặng nề của địch quân, và từ tháng Ba năm 1965, quân Mỹ đã đổ bộ qui mô vào Đà Nẳng đề cân bằng thế trận. Hàng trăm ngàn quân Mỹ có mặt ở miền nam đã đặt ra bao nhiêu vấn đề cho xã hội miền nam trước sức mạnh của đồng đô la Mỹ đưa lối sống Mỹ vào xã hội. Tiếc rằng, vào thời nay, người ta không còn nghe ai hát “Tiếng Hát To” của nhạc sĩ Phạm Duy để hồi tưởng một thời đau thương đã qua. Nhưng khi nhìn lại thời đó, những năm 60, tuy chúng ta đã sống rất khó khăn, chật vật, chịu nhiều đau buồn, chìm trong những bất định về chính trị và chiến tranh, hình như hầu như chúng ta vẫn không mất gì cả, hay không mất bao nhiêu. Xã hội của chúng ta vẫn còn đó, văn hóa gia đình vẫn còn đó, và cuộc sống của mỗi chúng ta, căn bản, vẫn còn đó. Bởi vì chúng ta vẫn được sinh ra và nuôi dưỡng trong lời ru của mẹ, và lớn lên trong những bài hát như Nương Chiều, Ngày Trở Về, Giọt Mưa Thu, Sầu Vương Biên Giới, Mộng Lành, Bà Mẹ Quê… Chúng ta hầu như chẳng mất gì cả khi một nền âm nhạc phong phú phát triển trong những năm đó vẫn bao quanh chúng ta và làm cho chúng ta thấy gần gũi yêu mến cuộc đời mình đang sống. Và quan trọng hơn cả là vì nền giáo dục của chúng ta vẫn còn đó. Một nền giáo dục nhân bản vẫn giữ được nếp “tôn sư trọng đạo”. Một nền giáo dục vẫn còn nhấn mạnh vào lịch sử hào hùng của dân tộc khiến cho rất ít người không biết được Lý Thường Kiệt là ai, thậm chí Lữ Gia, Tô Hiến Thành hay Phạm Ngũ Lão là ai. Một nền giáo dục vẫn làm cho người ta thấp nếp văn hóa đẹp đẽ, gần gũi qua hàng loạt tác phẩm văn học từ cổ điền đến cận đại như Trê Cóc, Lục Súc Tranh Công, Bích Câu Kỳ Ngộ, Nhị Độ Mai, Phan Trần, Nhị Thập Tứ Hiếu, Cung Oán Ngâm Khúc, Chinh Phụ Ngâm, Kim Vân Kiều và những tuyệt tác của Bà Huyện Thanh Quan, Cao Bá Quát, Nguyễn Công Trứ, Nguyễn Khuyến… Một nếp giáo dục quan tâm đến giáo dục con người từ nhỏ lên trung hoc, chúng ta phải trải qua bao nhiêu môn đức dục, luân lý, công dân giáo dục…
Nền giáo dục đó, văn hóa gia đình đó, đã làm nên con người của những thế hệ trước đây. Đó là những gì thế hệ đi trước đã có, và đã mất vĩnh viễn. Thời thế nay đã khác, và quan trọng hơn hết, cái vùng đất cho nền văn hóa đó phát triển, không còn với chúng ta nữa. Chúng ta đã mất, thì làm sao có di sản để lại cho những thế hệ sau này. Thế nhưng tại sao chúng ta trắng tay như thế. Và chúng ta trở lại câu hỏi muôn thuở: Tại sao chúng ta mất trong cuộc chiến đó?
Câu trả lời, sau khi suy đi nghĩ lại, có lẽ là vì chúng ta vào lúc đó chưa cảm nhận được cuộc chiến là thần thánh. Chẳng gì dễ hơn và đúng hơn khi nói chúng ta thua là vì “đồng minh tháo chạy”, vì “thua trí kẻ địch phi nhân và xảo quyệt”. Thế nhưng chúng ta ở đâu trong cuộc chiến đó? Những người lãnh đạo đất nước? Những đảng phái chính trị? Những người lãnh đạo tôn giáo? Giới sĩ phu trí thức? Tầng lớp thanh niên, tuổi trẻ?

Xác phi cơ rớt trên đường phố Sảigòn những ngày cuối tháng 4-1975.AFP/Getty Images
Tại sao giặc Nguyên Mông hung hãn đến thế, nhưng Trần Hưng Đạo đã ba lần đánh duồi quân xâm lược ra khỏi bờ cõi, đến mức Thái tử Thoát Hoan phải chui vào ống đồng bò về Tàu. Tại sao quân Minh hùng mạnh đến thế, đã đô hộ nước ta vững vàng có đến 30 năm, thế mà người anh hùng áo vãi Lê Lợi từ Lam Sơn vẫn đánh đuổi kẻ thù ra khòi đất nước sau mười năm chiến đấu gian khổ? Tại sao giặc Nhà Thanh của Tôn Sĩ Nghị với 20 vạn quân hùng cứ đất Thăng Long bị tan tác nhanh chóng không kịp chạy qua cầu chỉ với cuộc hành quân thần tốc của Quang Trung Nguyễn Huệ? Chiến thắng của dân tộc ta chắc chắn là vì dân ta biết giặc là kẻ ngoai xâm phải đánh đuổi, và để đánh đuổi ngoại xâm thì sự hy sinh gian khổ cùng đồng tâm nhất trí là yếu tố cần thiết và còn có thể là điều kiện đủ cho chiến thắng. Thời nhà Trần, chúng ta có Hội Nghị Diên Hồng. Thời Lê Lợi, chúng ta có được sức mạnh của khối dân ở nông thôn. Thời Nguyễn Huệ, chúng ta có niềm tin đầy tự hào của ba quân về người lãnh đạo.
Trong thời chiến tranh Viêt Nam, dường như chúng ta chưa xác định được đây là ngoại xâm hay nội chiến. Bởi vì nghĩ rằng đó là nội chiến, không ít người thoái thác, xem đó là dơ bẩn, tránh xa. Đúng là một cuộc nội chiến nhưng mang ý nghĩa ngoại xâm trên nhiều mặt, nếu chúng ta nhìn đến mức quân viện của Liên Xô và Trung Cộng cho miền bắc. Tính phức tạp đó dường như không được nêu rõ cho người dân, cho nên nơi người dân, còn có sự mơ hồ.
Trong cái xã hội chúng ta từng có, dường như chúng ta có nhiều quá để hưởng thụ, để gìn giữ, chẳng muốn mất hay thiệt hại gì cả - ngay cả cái dân chủ “tai hại” mà miền bắc không có. Cái tâm lý đó khiến cho người ta thường không có thái độ tích cực, cần thiết khi nghĩ đến trách nhiệm, vai trò của bản thân mình trong chiến tranh. Ngoài miền bắc, người Cộng Sản có hai “lợi thế”, là độc tài và vô sản. Độc tài thì nói gì, người dân cũng phải làm theo. Vô sản thì khiến người dân chép miệng: có gì mà mất. Họ tiến hành “chiến tranh nhân dân”, “toàn quốc kháng chiến”, xem người dân như một thứ quân tốt công cụ cho chiến tranh. Trong miền nam, chúng ta nhiều khi quên rằng mình đang đứng trước cái họa “diệt vong” để thấy rằng mình có thể mất cả - như hiện nay! Trong một xã hội, đất nước “phong phú”, đa diện, đa dạng phức tạp như miền nam, chúng ta không tạo được một mặt trận chung để gắn bó con người lại với nhau. Trong một tình hình đòi hỏi sự nhất trí, đoàn kết, chúng ta vẫn không tránh được sự chia rẽ. Trong một tình thế đòi hỏi sự hy sinh, một số thành phần trong xã hội vẫn tìm cách hưởng thụ, có cách tránh né trách nhiệm theo lối riêng của mình. Lãnh đạo tham quyền hơn tập trung vào trách nhiệm lãnh đạo chiến tranh một cách có hiệu quả. Đảng phái vẫn đi tìm quyền hành mà không thấy sự vô năng lực chính trị của mình. Những người lãnh đạo tôn giáo cũng mù quáng đi tìm quyền hành như những nhà chính trị mà không làm nhiệm vụ thắp sáng linh hồn cho tín đồ. Trí thức tê liệt trùm chăn. Và tuổi trẻ cảm thấy bất lực, thụ động… Nguyên cả một hệ thống cho thấy sự bất cập, không tương xứng với sự hy sinh của cả triệu người cầm súng ngoài mặt trận - đến như trở thành sự lợi dụng, vô tâm, tắc trách tàn nhẫn.
Ba mươi bảy năm đã trôi qua từ ngày 30-4 năm đó. Đất nước không còn chiến tranh, nhưng vẫn tan hoang trong một nghĩa khác. Những tàn phá sau chiến tranh lại còn tan hoang hơn nhiều lần so với những tàn phá trong chiến tranh. Cái đất nước xưa, xã hội xưa, văn hóa xưa, đáng trân quí, vĩnh viễn không còn nữa. Đáng thương cho những thế hệ sau này không có những gì những thế hệ đi trước đã có, không có những người thân thích cần có để thấy cuộc sống mình có ý nghĩa thực sự. Không có hàng xóm láng giềng. Không có miền quê mình có thể lui tới để thấy mình có gốc gác. Không có gì để đọc, để ngâm nga. Không có những bài ca để hát để tìm sự rung động… Và e rằng không có gì thay thế được thực sự những thứ những thế hệ đi trước đã có và đánh mất trên đường chạy loạn lịch sử! Trước những biến chuyển khốc liệt trên toàn cầu trong thời đại ngày nay, những mất mát của chúng ta nay chắc sẽ không bao giờ kiếm lại được![HNN]



